Những người lính giữ trời

Trong căn phòng ấm áp của Trường Sĩ quan Không quân, trước những gương mặt chiến sĩ khóa 53 rạng ngời khao khát, Đại tá Hoàng Văn Chiến đã trải lòng về con đường chinh phục bầu trời, về vinh quang, thử thách và những bài học xương máu không bao giờ có cơ hội rút kinh nghiệm của người phi công chiến đấu.

Những người lính giữ trời

“Nghề của chúng ta là nghề chinh phục bầu trời. Bầu trời không chỉ là nơi chúng ta làm nhiệm vụ, mà còn là môi trường học tập, môi trường sống và là trường đại học để các đồng chí trưởng thành…”, Đại tá Hoàng Văn Chiến bắt đầu câu chuyện về nghề phi công chiến đấu như vậy.

Ngược dòng ký ức, ông bồi hồi kể về những ngày thơ ấu: “Ngày ấy, vào khoảng 1980-1982, Trung đoàn 918 đóng ở sân bay Vinh, máy bay An-2, Li-2 thả hàng cho bộ đội ta và bạn Lào. Bọn trẻ con chúng tôi coi sân bay như sân chơi.

Chỉ cần nghe tiếng động cơ là cả đám bỏ bóng chạy ùa ra, đứng ngơ ngẩn ngước nhìn những chiếc máy bay lấp lánh dưới nắng. Có lần tôi được một chú phi công cho ngồi trong buồng lái, tay được sờ vào cần lái mà về nằm mơ cả tuần”.

Và giấc mơ ấy không bao giờ nguội. Nó lớn dần theo năm tháng, vượt qua cả lớp chuyên nguồn đại học, vượt qua suất cử tuyển cao đẳng an ninh dành cho con em ngành, để rồi năm 1987, chàng trai 18 tuổi Hoàng Văn Chiến khoác ba lô sang Liên Xô, vào học tại Viện Krasnodar học lái Su-22M4, loại chiến đấu cơ hiện đại nhất mà Không quân Việt Nam có được thời điểm ấy.

Tốt nghiệp với tấm bằng đỏ, về nước ông được phân công về Trung đoàn Không quân 937 (Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không-Không quân), đóng ở sân bay Thành Sơn, Phan Rang.

Ông kể, 26 năm gắn bó với Trung đoàn 937, nên Phan Rang với ông không chỉ là nơi đóng quân, mà là quê hương thứ hai, là ngôi trường khắc nghiệt nhất đã dạy ông bay và dạy ông trưởng thành.

Người ta vẫn truyền nhau câu nói cửa miệng: “Phan Rang, Phù Cát đã từng, Thọ Xuân, Yên Bái xin đừng dọa nhau”. Có ở Phan Rang mới hiểu cái nắng như đổ lửa là thế nào.

Nó như thiêu đốt, nó làm cháy da. Trong cái nắng nóng đó là gió cát mù mịt. Nước ngọt thì phải chở từ Ninh Thuận lên mới có để dùng, bởi thế phải tiết kiệm từng ngụm.

Có lẽ bởi vậy người ta mới bảo “đi Phan Rang một lần là nhớ cả đời”. Nhưng cũng chính từ khó khăn đó đã tôi luyện chúng tôi trở thành những phi công thực thụ. Và cũng chính cái khắc nghiệt ấy dạy chúng tôi biết quý từng giọt nước, từng bữa cơm, từng giấc ngủ ngắn ngủi giữa hai đợt bay.

Trung đoàn 937 mà ông tự hào phục vụ chính là hậu duệ trực tiếp của Phi đội Quyết Thắng huyền thoại. Ngày 28.4.1975, mới chỉ được huấn luyện một tuần trên những chiếc A-37 thu được của địch, các anh đã cất cánh từ chính đường băng Thành Sơn, bay vào Tân Sơn Nhất, phá huỷ 24 máy bay địch, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chỉ nghĩ đến thôi, mắt ông đã long lanh: “Mình chỉ là người tiếp nối ngọn lửa ấy. Từ A-37 đến Su-22M4, rồi Su-27, Su-30… mỗi bước đi của Không quân đều in dấu chân của 937”.

Trong hàng nghìn chuyến bay, ông bảo chuyến đầu tiên ra Trường Sa là xúc động nhất, không bao giờ quên được. Máy bay rời đường băng Phan Rang, vượt biển, từ độ cao hành trình, nhìn xuống chỉ thấy nước là nước.

Rồi quần đảo hiện ra ban đầu chỉ là những chấm nhỏ xíu giữa đại dương mênh mông, rồi hiện ra những lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật, những con tàu lấp lánh dưới nắng. Khi ấy ông đã khóc. Không phải vì sợ, mà vì tự hào, vì thương quá Tổ quốc mình.

Cảm giác ấy không gì diễn tả nổi. Khi bay về, tôi đã nói với các đồng đội: “Hôm nay bay không phải vì huấn luyện, mà bay vì Tổ quốc trong tim mình đang đập từng nhịp”.

Từ đó, ông luôn dặn học trò: “Bay được chưa đủ, bay tốt chưa đủ, bay đẹp chưa đủ… phải bay xa, phải ra tới đầu sóng ngọn gió của Tổ quốc mới đáng mặt phi công”.

Nghe ông tâm sự, tôi thoạt nghĩ “phi công lái máy bay chiến đấu chắc mạnh mẽ lắm”. Nhưng thật ngạc nhiên khi biết ông đã khóc không phải một, mà những ba lần. Ông trầm hẳn giọng khi nhắc đến những lần mất đồng đội.

Lần thứ nhất, đó là vào ngày 31 tháng 10 năm 1996. Hôm ấy một đồng đội của ông – Anh hùng LLVT Nguyễn Quốc Dũng đã hy sinh trong chuyến bay đêm. Ông kể khi ông đến hiện trường, nhìn thấy vợ đồng đội ôm hai con nhỏ khóc ngất, ông mới thấm cái giá của hai chữ “phi công”.

Lần thứ hai là khi hai học trò yêu quý nhất, Nguyễn Anh Tú và Lê Văn Nghĩa hy sinh trên biển trong bài bay cơ động phức tạp để bảo vệ đảo. Trước đó ông còn hứa với họ: “Bay xong bài này thầy cho các em nghỉ phép về thăm vợ con”.

Vậy mà… Nghĩa để lại vợ và hai cô con gái học giỏi, Tú để lại vợ và đứa con còn đỏ hỏn. Khi về thăm gia đình các chiến sĩ ấy, ông chỉ biết cúi đầu xin lỗi.

Lần thứ ba ông khóc là ngày chính thức ông phải rời ghế lái vì hết tuổi bay phản lực (52 tuổi). Hôm ấy ông ngồi lại trong buồng lái lần cuối, vuốt ve cần lái thật lâu, nước mắt cứ thế trào ra như một đứa trẻ.

Tôi hỏi ông có tiếc ở cái lần thứ ba khi ngồi trong buồng lái khóc không? Ông cười: “Tiếc chứ! Nhưng không phải tiếc ghế lái, mà tiếc cái cảm giác chiếc máy bay nghe mình răm rắp, tiếc những lần vượt tầng mây bay ra Trường Sa, tiếc cái cảm giác bánh lái chạm đường băng đúng vạch sau một bài bay phức tạp”.

Nhưng rồi ông nói như để tự an ủi “ngày xưa mình chỉ phải lo cho chiếc máy bay của mình an toàn, giờ phải lo cho cả trăm chiếc bay tốt, phải chăm cả trăm phi công trẻ” ...

Mỗi lần về thăm Trung đoàn 937, nghe tiếng Su-22 gầm vang cất cánh, tôi lại đứng lặng hồi lâu. Các em trẻ gọi tôi là thầy, là bác, là sếp, còn tôi gọi các em là “những thằng con trời” của mình. Nhìn các em bay A-50, A-80, sử dụng vũ khí thông minh, tôi biết mình đã làm tròn trách nhiệm người đi trước.

Hôm ấy, cũng tại trường Sĩ quan Không quân gặp các em khóa 53. Nhìn “đám trẻ” mặc quân phục còn nếp hồ cứng, mắt sáng rực, ông như thấy lại mình năm 1987.

Ông hỏi: “Điều gì khiến các em chọn nghề phi công?” Lớp trưởng Nguyễn Hoàng đáp: “Em lớn lên ở Nha Trang, ngày nào cũng thấy máy bay bay trên đầu, ngưỡng mộ quá nên em muốn trở thành phi công ạ”.

Một em khác nói em sinh ra trong gia đình quân đội, xem video lịch sử, đọc chuyện cha ông, thấy nghề này cao quý nên theo. Ông cười, mắt nheo nheo thật vui, hiền hậu: “Thầy cũng thế. Ngày nhỏ ở gần sân bay Vinh, nghe tiếng máy bay là tim đập thình thịch. Có lần được chú phi công cho ngồi buồng lái, thế mà về nằm mơ cả tuần. Giấc mơ ấy theo thầy suốt đời”.

Nói đến đây, Đại tá Hoàng Văn Chiến bất giác nhìn ra cửa sổ, nơi xa xa có những tốp học viên đang huấn luyện, rồi quay lại nói với cả lớp: “Bầu trời không bao giờ dễ dãi, nhưng bầu trời rất công bằng. Các em bỏ công sức bao nhiêu, bầu trời trả lại tự do bấy nhiêu.

Đầu tiên phải bay được, sau phải luyện bay tốt, rồi mới bay đẹp, bay hay… và nhất định phải bay xa – bay ra Trường Sa. Khi các em bay ra Trường Sa, hãy nhớ có một “ông già” từng bay Su-22 ở Phan Rang đang đứng dưới đất ngẩng đầu nhìn các em mỉm cười.

Rồi ông cười: “Tôi đã có hơn 2.000 giờ bay, đã đào tạo hàng trăm phi công, giờ chỉ mong các em bay an toàn. Vì bầu trời Việt Nam giờ đây rất cần các em bảo vệ.

Tôi hỏi ông: “Thưa đại tá, bầu trời và mặt đất, cái nào quan trọng hơn?” Ông đáp ngay, hầu như không cần suy nghĩ: “Bầu trời dạy tôi bay, mặt đất dạy tôi làm người. Thiếu cái nào cũng không được. Nhưng nếu phải chọn một nơi để gửi gắm, tôi vẫn chọn bầu trời, vì ở đó có Trường Sa, có Tổ quốc đang chờ”.

Ông lại nhắc học trò: “Bầu trời không cho phép sai lầm. Dù là vị tướng hay hạ sĩ, lên máy bay chỉ còn một danh xưng: phi công. Ai sai, người ấy phải trả giá bằng mạng sống của mình. Nghề chúng ta chỉ được phép học hỏi và rút kinh nghiệm từ lỗi của người khác. Lỗi của mình thì không còn cơ hội sửa nữa”.

Rồi ông giơ ba ngón tay, nói điều mà ông đã nói đi nói lại suốt 26 năm đứng lớp bay: Một là sức khỏe phải thật tốt. Hai là trình độ phải thật giỏi để tạo ra bản lĩnh. Ba là phải có niềm tin – tin vào máy bay, tin vào anh em kỹ thuật, tin vào đài dẫn đường, tin vào chính mình.

Thiếu một trong ba, không sớm thì muộn cũng phải trả giá. “Tôi có hơn 2.000 giờ bay, nhưng lần nào cất cánh cũng hồi hộp như lần đầu. Vì trên ấy chỉ có một mình mình với bầu trời và trách nhiệm”.

Đại tá Hoàng Văn Chiến khép lại buổi trò chuyện, cũng là lời kết cho cả một đời bay bằng lời nhắn nhủ tâm huyết: “Con đường đã chọn rồi, là phải răm rắp một nghề cho chín hơn chín mười nghề”. Phi công là những tư lệnh tương lai.

Tôi mong các thế hệ phi công trẻ luôn cố gắng, phấn đấu, đừng vì thấy vất vả trước mắt mà nản, phải bước qua nó. Khát vọng và giấc mơ chinh phục bầu trời, phải chinh phục bằng được, bằng sự rèn luyện, tu dưỡng và học tập không ngừng”.

Giọng ông vẫn vang lên, vừa nghiêm khắc của người chỉ huy, vừa ấm áp của người anh, người cha gửi gắm cả cuộc đời mình vào những đôi “cánh thép” trẻ. Nói xong ông đứng dậy chào kiểu nhà binh và bước ra cửa.

Tiếng máy bay Su vẫn rền vang trên bầu trời trong giờ huấn luyện. Tôi biết, ông lại đang ngẩng mặt nhìn trời như nhìn những đứa con của mình đang bay.

Bầu trời không cho phép sai lầm thứ hai, nhưng bầu trời luôn dang rộng vòng tay với những người dám bay, dám yêu và dám sống hết mình vì Tổ quốc.

Và đại tá Hoàng Văn Chiến, người phi công có hơn 2.000 giờ bay vẫn đang âm thầm lo cho bầu trời xanh mãi, dù ông chỉ còn được ngắm nó từ mặt đất.

Phóng sự của CAO HOÀ - NGUYỄN VIỆT – MẠNH THẮNG – NGUYỄN HUỆ - VĂN QUÂN

Đồ hoạ: TRƯỜNG GIANG