Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”
VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”
VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Dưới cái tên “hợp tác kinh doanh”, HĐ 002 được sinh ra bởi, Công ty Upexim và tradeco với giá trị 120 tỷ đồng, mỗi bên một nửa, để đầu tư, xây dựng, khai thác khối nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu, TP Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, theo thể hiện của sổ sách kế toán, dòng tiền giữa Upexim và Tradeco không được ghi trên tài khoản hợp tác đầu tư, mà nằm trên tài khoản phải thu – phải trả (Tradeco ghi tài khoản 1388, Upexim ghi tài khoản 3388). Trong ngôn ngữ kế toán, đây là cách ghi một khoản vay – trả, không phải một khoản góp vốn đầu tư chung.

Cái lõi ấy vô tình lộ ra ở chỗ, trước khi ký ông Trương Vui đã nhiều lần vay tiền của bà Võ Thị Thanh Loan, Chủ tịch HĐQT Tradeco, với lãi suất từ 6–8%/tháng. Nhiều chứng từ của Upexim ghi thẳng “chi trả lãi chị Loan”, “chi hoàn ứng chị Loan”. Bản thân bà Loan cũng thừa nhận: “Đó là tiền riêng của bà cho ông Vui vay”. Như vậy, bên trong lớp vỏ “hợp tác” là một quan hệ vay nợ cá nhân. Để qua mặt pháp luật và những NLĐ, các cổ đông, Trương Vui và Loan đã hợp thức nó bằng bản HĐ 002. Pháp luật dân sự gọi giao dịch dựng lên để che giấu một giao dịch khác là giao dịch giả tạo và quy định rõ giao dịch giả tạo thì vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu mới là quan hệ thực chất. Điều này được thể hiện rõ tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2005.

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”

Nếu “hợp tác” là lớp “vỏ bọc” đầu tiên thì “lớp vỏ” thứ hai lại nằm ở đối tượng hợp đồng. Muốn đem một tài sản ra góp vốn, trước hết nó phải thuộc quyền định đoạt của mình. Nhưng khi ký Hợp đồng 002, khối nhà đất 4-6 Hồ Tùng Mậu không thuộc về Upexim mà nó là của Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP. Hồ Chí Minh, một doanh nghiệp Nhà nước. Upexim chỉ là bên đi thuê. Tuy nhiên, hợp đồng thuê đã hết hạn từ 31/12/2009, phải đến 01/10/2010 (sau cả ngày ký Hợp đồng 002) thì hai bên mới ký lại.

Như vậy, ở thời điểm “hợp tác”, Upexim chưa phải người thuê hợp pháp. Tại điều 7.3 của Hợp đồng thuê nhà ghi rõ, bên thuê không được liên doanh, liên kết, cho thuê lại khi chưa có chấp thuận bằng văn bản của chủ sở hữu (phù hợp với quy định bên thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước không được chuyển nhượng, cho thuê lại Khoản 1 Điều 101 Luật Nhà ở 2005). Mặt khác, quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền bán tài sản gắn liền với đất là của tổ chức sử dụng đất hợp pháp theo Điều 109 đến Điều 112 Luật Đất đai 2003 (tổ chức hợp pháp ở đây là Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP HCM, không phải Upexim).

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Lao động Đoàn thể, ông Nguyễn Xuân Nam, Chủ tịch HĐQT Upexim, khẳng định: “Chủ sở hữu không hề hay biết việc ký kết, điều này thể hiện tại CV số 2273/QLKDN-KD của Công ty Quản lý nhà TP HCM”. Việc đem tài sản của Nhà nước đi “hợp tác” khi mình không có quyền là giao dịch vi phạm pháp luật. Như vậy, Điều 128 Bộ luật Dân sự 2005, HĐ 002 bị vô hiệu – một căn cứ độc lập với chuyện giả tạo nói ở trên.

VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Trong HĐ 002, đại diện cho Upexim ký là ông Trương Vui. Nhiều người lầm tưởng người đứng đầu doanh nghiệp muốn ký gì cũng được, thực ra không phải. Việc đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông theo Điểm d Khoản 2 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005. Trong Điều lệ của Upexim cụ thể hóa: “Hợp đồng phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận theo Điều 51 Điều lệ Upexim; dự án vượt 20% vốn điều lệ bắt buộc phải thông qua ĐHĐCĐ theo Mục 5.3 Điều 5 Quy chế quản lý tài chính; Điểm 1 Khoản 2 Điều 38 Điều lệ năm 2007”.

Vốn điều lệ Upexim năm 2010 là 40 tỷ đồng nên “hàng rào” chỉ ở mức 8 tỷ đồng. Như vậy, một hợp động 120 tỷ đồng bắt buộc phải thông qua Đại hội ĐCĐ và HĐQT. Vậy mà các thành viên HĐQT Upexim đều khẳng định chưa từng họp bàn việc hợp tác với Tradeco. Phía Tradeco cũng không vững hơn, khi biên bản họp ghi sai số đăng ký kinh doanh (dùng nhầm số của một công ty ở Hà Nội) và một cổ đông nắm 30% vốn không hề ký cũng không ủy quyền cho ai nhưng vẫn được ghi “dự họp đủ 100%”.

Một giao dịch do người không có thẩm quyền xác lập, không được pháp nhân chấp thuận hợp lệ, thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với pháp nhân đó theo Điều 145, Điều 146 Bộ luật Dân sự 2005 (*).

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”

Có thể nói, việc “phù phép” để một bản trích thành biên bản họp là chi tiết tinh vi nhất trong phi vụ hợp tác của HĐ 002. Để chứng minh ông Trương Vui có quyền ký HĐ 002 duy nhất là căn cứ vào Văn bản "Trích Biên bản họp Hội đồng quản trị” số 459. Tuy nhiên, hai khái niệm này cũng đang có dấu hiệu nhập nhằng. Bởi “Biên bản họp” là văn bản gốc ghi lại một cuộc họp có thật, còn “bản trích” là một mẩu sao ra từ biên bản gốc. Bản trích có giá trị khi biên bản gốc tồn tại và hợp pháp, trong trường hợp không có gốc, bản trích không chứng minh được gì.

VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Theo ông Nguyễn Xuân Nam, biên bản gốc không tồn tại. Còn theo tìm hiểu của phóng viên Tạp chí Lao động Đoàn thể, trong sổ ghi biên bản họp của Upexim không có cuộc họp tương ứng. Số 459 không nằm trong sổ công văn của công ty, ngày trên tài liệu bị sửa từ 27 thành 24/7/2010 cho phù hợp với ngày ký hợp đồng là 26/7/2010 nhưng trớ trêu thay ngày 24/7/2010 lại là thứ 7 nên toàn bộ cán bộ, NLĐ của Upexim nghỉ làm viêc theo quy đinh.

Chưa kể, chữ ký mang tên một thành viên HĐQT Nguyễn Thiên Thao trong tài liệu được kết luận là chữ ký giả (theo Kết luận giám định số 668/C45B ngày 24-4-2014 của Phân viện Khoa học hình sự). Một bản trích không gốc, lại bị giả chữ ký, về nguyên tắc không có giá trị.

Thế nhưng, theo phân tích tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/QĐ-VKSTC-V7 ngày 01/12/2023 của VKSND tối cao, hai cấp tòa đã coi tài liệu 459 như một biên bản họp chính thức, rồi viện quy định về tỷ lệ biểu quyết để kết luận “đa số thành viên đã đồng ý”. Đó chính là sự đánh tráo khái niệm, nâng một “bản trích” bị cho là giả thành một “biên bản họp” hợp lệ.

Một khi mắt xích giả này được công nhận, cả dây chuyền phía sau trượt theo, thẩm quyền của người ký được công nhận, hợp đồng được coi có hiệu lực, rồi tài sản bị chia đôi. Một viên gạch giả được đặt làm móng cho cả tòa nhà phán quyết.

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”

Có thể thấy, HĐ 002 được kí vội vàng, trong khi tính pháp lý vẫn còn nhiều tranh cãi, đặc biệt là hình thức. Hình thức của hợp đồng nghe như chuyện thủ tục nhưng với giao dịch trăm tỷ, nó là “niêm phong” bảo đảm nội dung không bị tráo đổi sau khi ký. HĐ 002 thiếu mọi niêm phong, vì với độ dài 9 trang nhưng chỉ ký vào trang cuối, không ký nháy từng trang, không đóng dấu giáp lai.

Nhiều ý kiến cho rằng, 8 trang nội dung còn lại có thể bị thay mà không ai biết; phần căn cứ không dẫn chiếu bất kỳ nghị quyết hay quyết định nào. Cả hợp đồng chỉ có một bản duy nhất do Tradeco giữ, Upexim không cầm bản nào; số “002” do Tradeco tự đặt; địa chỉ trụ sở cũng chính là đối tượng hợp đồng còn ghi sai tên phường (tên đúng là phường Nguyễn Thái Bình ghi thành Bến nghé).

Nguyên Phó Chánh tòa Hình sự TAND TP. Hồ Chí Minh, luật sư Vũ Phi Long, khẳng định: “Cách ký này có thể làm phát sinh rủi ro về việc thay đổi hoặc bổ sung nội dung sau này. Chưa kể, hợp đồng có một bản lại chỉ do Tradeco giữ, Upexim không giữ bản nào lấy gì đối chứng”.

Những khiếm khuyết về hình thức tuy không làm vô hiệu hợp đồng nhưng lại làm suy giảm nghiêm trọng giá trị chứng cứ của văn bản và củng cố thêm nhận định về bản chất giả tạo đã nêu ở trên.

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”
VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”
VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 đòi hỏi một hợp đồng hợp tác phải là sự gặp gỡ thảo luận ý chí thật của hai doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở HĐ 002, người đứng tên ký phía Tradeco là Tổng giám đốc Nguyễn Tấn Hiếu lại chưa từng xuất hiện trong suốt quá trình thương lượng. Người duy nhất làm việc với ông Trương Vui từ đầu đến cuối là bà Võ Thị Thanh Loan (tức chủ nợ, bút lục 611). Khi người đàm phán thực chất là chủ nợ, còn người ký chỉ mượn danh đặt bút thì “ý chí hợp tác của pháp nhân Tradeco” chỉ còn là hình thức. Điều này khớp đến lạ với cái lõi “vay nợ” nhưng lại lộ ra từ lớp vỏ “hợp tác”.

Giả sử bỏ qua tất cả nhưng “lỗi kỹ thuật” về hình thức và nội dung của bản hợp đồng, thì vẫn còn câu hỏi rất đời, đó là “tiền đâu?”. Về vấn đề này hai cấp tòa đều cho rằng, Tradeco đã góp đủ 60 tỷ đồng nên được hưởng 1/2 tài sản. Căn cứ vào đường đi của dòng tiền, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Trong 60 tỷ đồng theo hồ sơ chứng từ, Tradeco chỉ khoảng 7,5 tỷ đồng là chuyển khoản thật (trong đó 2 tỷ đồng lại ghi rõ là tiền vay), phần còn lại hơn 52,5 tỷ đồng chỉ là phiếu thu – phiếu chi tiền mặt. Các phiếu này lập cho các khoản vay, lập khống để cân đối sổ sách, không đúng quy định luật kế toán.

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”
Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”

Quan trọng hơn, hai bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra đều xác định nguồn tiền mua khối nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu không đến từ Tradeco, mà từ vốn vay các ngân hàng: Vietcombank, MB, Agribank, do chính Upexim đứng tên cùng vốn của Upexim (theo Kết luận điều tra số 131/C03-P13 ngày 13/11/2018 và Kết luận điều tra bổ sung số 17/KLĐT-CSKT-P10 ngày 11/5/2021. Riêng giai đoạn đầu năm 2011, Upexim đã thanh toán hơn 72,9 tỷ đồng mua nhà, trong đó hơn 64,7 tỷ đồng là tiền vay ngân hàng, còn 8,2 tỷ đồng tiền của Upexim từ MB chuyển đến. Nếu tiền mua tài sản chảy ra từ túi Upexim và các ngân hàng thì lấy cơ sở nào để trao cho Tradeco một nửa tài sản là nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu?

VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

“Lớp vỏ” cuối cùng là năng lực của Tradeco. Theo tìm hiểu của phóng viên, Tradeco thành lập ngày 13/4/2010, chỉ ba tháng trước khi ký hợp đồng với vốn điều lệ là 10 tỷ đồng, gồm 4 cổ đông. Trong đó, vợ chồng bà Võ thị Thanh Loan và ông Hoàng văn Nhân nắm 77% cổ phần, nhưng cam kết bỏ ra 60 tỷ đồng, gấp 6 lần tài sản của chính mình. Đến lúc hoàn tất mua nhà giữa năm 2011, các cổ đông Tradeco còn chưa góp đủ 10 tỷ đồng vốn điều lệ. Một doanh nghiệp như vậy lấy đâu ra 60 tỷ đồng?

VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Câu hỏi đó lẽ ra đã có lời đáp nếu có một cuộc giám định tài chính soi rõ Tradeco thực góp bao nhiêu và tiền mua tài sản từ đâu ra. Về điều này, Upexim đã nhiều lần đề nghị trưng cầu giám định nhưng không được chấp nhận. Về chứng từ, báo cáo kiểm toán độc lập của Công ty UHY, ngày 10/7/2023 kết luận, toàn bộ chứng từ ghi nhận 60 tỷ đồng không tuân thủ Luật Kế toán, phiếu chi của Tradeco thiếu chữ ký người nhận tiền, người ký nhận tiền không phải người của Upexim, chứng từ thiếu chữ ký kế toán trưởng, thủ quỹ Điểm g Khoản 1 Điều 17 Luật Kế toán 2003.

Điều cá biệt nằm ở chỗ, 13 tỷ đồng được Upexim lập phiếu thu khi tiền Tradeco chưa hề chi (thu khống). Khi mắt xích quyết định nhất chưa được giám định song mọi kết luận lại ghi: “Tradeco đã góp đủ vốn”. Đây là kiểu kết luận đi trước chứng cứ.

Bóc hết tám lớp vỏ, gồm: “Hợp tác”, “tài sản của ta”, “đã được phép ký”, “biên bản họp hợp lệ”, “văn bản chặt chẽ”, “hai bên hợp tác”, “đã góp 60 tỷ”, “đối tác đủ lực”, cái lõi được phơi ra, đó là: “Một quan hệ vay nợ cá nhân, dựng thành hợp đồng, ký bởi người không đủ thẩm quyền, trên một tài sản không thuộc về mình, dựa vào một tài liệu bị cho là giả, với dòng tiền phần lớn chỉ tồn tại trên giấy”.

VỤ ÁN TRƯƠNG VUI: NGƯỜI LAO ĐỘNG “DỞ KHÓC DỞ CƯỜI”

Theo pháp luật dân sự, mỗi lớp ấy đều có thể tự nó làm hợp đồng vô hiệu, huống hồ chúng cùng hiện diện, giao dịch vô hiệu thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005.

Như vậy, Tradeco không có bất kỳ quyền sở hữu nào với khối tài sản nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu mà Công ty Upexim đã được UBND thành phố cấp sổ đỏ (trong HĐ 002 cũng không có điều khoản nào cho Tradeco sở hữu chung nhà, đất).

Việc hai cấp tòa tự xác định, đây là sở hữu chung và chia mỗi bên 50% là trái quy định về xác lập quyền sở hữu chung theo Điều 218 Bộ luật Dân sự 2005. Điều này đúng với kết luận của Quyết định kháng nghị số 10/QĐ-VKSTC-V7: “Hợp đồng 002 là giả tạo, vô hiệu, không có giá trị pháp lý. Việc tuyên Tradeco sở hữu 50% nhà đất 4-6 Hồ Tùng Mậu là sai lầm nghiêm trọng, đủ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Điều 370, Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự”.

Vụ án Trương Vui:  Người lao động “dở khóc dở cười”

Với NLĐ, điều đáng nhớ không phải những con số mà là sự thật. Upexim – nơi “cơm áo gạo tiền” của biết bao nhiêu gia đình lao động. Vì “hành trình” đi tìm sự thật, họ mât việc làm, ảnh hưởng thu nhập. Đi đến tận cùng sự thật, suy cho cùng là điều mà NLĐ và các cổ đông của Upexim mong muốn.

(Còn nữa)

Bài viết: Thành Trung

Ảnh: Thành Trung