e magazine
29/12/2025 09:00
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

29/12/2025 09:00

"AI không phải là vạn năng"; "Đừng lấy quá khứ hy sinh để áp đặt cho nhân tài hiện tại"... Những góc nhìn trực diện đã được GS.TSKH Đinh Dũng - nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Thưa giáo sư! Ông nhiều lần nhắc đến việc Việt Nam từng ưu tiên nghiên cứu cơ bản, rồi lại có giai đoạn coi nhẹ lĩnh vực này. Nhìn lại, ông đánh giá thế nào về sự “dao động” đó trong tư duy chính sách?

GS.TSKH Đinh Dũng: Nhìn nhận một cách công bằng thì phải nói rằng đó là một quá trình gần như không thể tránh khỏi đối với một quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp về khoa học và công nghệ. Mặt bằng trí thức xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy về khoa học công nghệ.

Trong giai đoạn trước, chúng ta xác định ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khoa học - kỹ thuật, coi nghiên cứu cơ bản là chìa khoá để mở cánh cổng phát triển. Vì thế, những học sinh, sinh viên giỏi nhất đều được gửi đi học Toán, Lý, Hóa, Sinh... ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi đó, tư duy chủ đạo là: phải có nền tảng khoa học thật vững thì mới có thể phát triển lâu dài.

Cách làm ấy không sai. Trên thực tế, rất nhiều nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam hiện nay trưởng thành từ chính giai đoạn đó. Nghiên cứu cơ bản đã tạo ra một lớp trí thức có tư duy logic, đạo đức khoa học và khả năng tiếp cận tri thức hiện đại, góp phần nâng cao nền tảng trí thức của toàn xã hội.

GS.TSKH Đinh Dũng: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”GS.TSKH Đinh Dũng - nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Lao động Đoàn thể.

Nhưng vấn đề là, ở thời điểm ấy, chúng ta chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của các lĩnh vực khác, đặc biệt là khoa học xã hội và các ngành kỹ thuật ứng dụng. Khi nhận ra hạn chế đó, tư duy lại chuyển sang một cực khác: coi nhẹ nghiên cứu cơ bản, đề cao tính ứng dụng trước mắt, đòi hỏi kết quả nghiên cứu phải mang lại hiệu quả kinh tế tức thì.

Chính sách phát triển khoa học công nghệ cứ như vậy, nhảy từ cực này sang cực kia. Nhưng tôi cho rằng đó là cái giá phải trả của quá trình “thử - sai - điều chỉnh”. Không có con đường tắt nào cả.

- Theo giáo sư, việc xã hội hiện nay đặt rất nhiều kỳ vọng vào AI có phải là sự lặp lại của tư duy trước đây?

Tôi cho rằng về bản chất, đúng là như vậy.

Ngày nay, người ta nói rất nhiều về AI, về chuyển đổi số, và có xu hướng xem đó như lời giải cho hầu hết các bài toán phát triển. Nhưng AI chỉ là phương tiện, không phải là thứ vạn năng.

Nền tảng của một đất nước ấm no không chỉ nằm ở chỗ anh có bao nhiêu ứng dụng AI hay Internet nhanh đến đâu, mà là hôm nay anh sản xuất được bao nhiêu gạo, bao nhiêu thép, bao nhiêu máy móc, bao nhiêu ô tô,... để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Công nghệ số chỉ phát huy giá trị khi nó phục vụ cho sản xuất, quản lý và nâng cao năng suất thực. Nếu không có nền kinh tế mạnh tương xứng, thì AI dù có tiên tiến đến đâu cũng chỉ là lớp trang trí bên ngoài.

GS.TSKH Đinh Dũng: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Ông có thể diễn giải rõ hơn ý này?

Tôi lấy ví dụ thực tế, mạng di động và Internet ở Việt Nam hiện nay không hề kém Đức, thậm chí về tốc độ và độ phủ còn có mặt tốt hơn. Wifi gần như ở khắp nơi và gần như miễn phí. Nhưng rõ ràng thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống của Đức cao hơn Việt Nam rất nhiều.

Người Đức rất thực dụng. Họ chỉ nâng cấp công nghệ khi xã hội thực sự cần. Nếu mạng di động 4G hay hạ tầng Internet hiện tại đã đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống, thì họ không vội vàng chạy đua.

Trong khi đó, Việt Nam đi lên từ con số 0, nên cải tiến nhanh là lợi thế. Nhưng đôi khi chúng ta lại bốc đồng, nhiều người cho rằng mạng di động 5G và 6G sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Thực tế, nhu cầu xã hội luôn có giới hạn, và công nghệ chỉ nên phát triển tương thích với nhu cầu đó.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Thưa giáo sư, Nghị quyết 57 đặt mục tiêu rất cao về việc Việt Nam đến năm 2030 nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo. Nhưng từ câu chuyện mạng viễn thông hay “lớp trang trí” mà ông vừa ví von, liệu chúng ta có đang rơi vào bẫy “xây nhà từ nóc”? Làm thế nào để dung hòa khát vọng này với thực tế của nền kinh tế nội địa?

Nếu kỳ vọng rằng chúng ta có thể phát minh ra những công nghệ lõi hoàn toàn mới về AI để vượt mặt các nước tiên tiến ngay lúc này, thì đó là điều không tưởng.

Nhưng nếu hiểu là nhanh chóng nắm bắt, làm chủ các thành tựu công nghệ tiên tiến nhất của thế giới để mang lại hiệu quả kinh tế, thì chúng ta đã bắt đầu làm được. Việc này chủ yếu đến từ các doanh nghiệp lớn (cả nhà nước và tư nhân) với nguồn lực đầu tư khổng lồ, ví dụ như mạng 5G hay ô tô điện.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là phần ngọn. Vấn đề gốc rễ của kinh tế Việt Nam nằm ở năng suất lao động, đặc biệt là trong khối sản xuất và nông nghiệp – những bệ đỡ quan trọng của quốc dân. Việc ứng dụng công nghệ để giải quyết bài toán cốt lõi này hiện nay vẫn còn chậm và tụt hậu so với các nước phát triển. Không nâng cao được năng suất lao động thực chất, thì mọi công nghệ hào nhoáng đều thiếu nền tảng bền vững.

GS.TSKH Đinh Dũng: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Có quan điểm cho rằng khoa học chỉ nghiên cứu những thứ “trên trời dưới đất”, không tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp. Là người làm khoa học lâu năm, ông nhìn nhận thế nào?

Tôi rất chạnh lòng khi nghe những cách suy nghĩ phiến diện như vậy. Nhưng phải thừa nhận rằng trình độ khoa học - công nghệ của chúng ta hiện nay đang còn thấp, kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học công nghệ còn hạn hẹp. Vì thế, chưa thể tạo ra những sản phẩm khoa học công nghệ có giá trị kinh tế được.

Khoa học không chỉ có nhiệm vụ tạo ra sản phẩm có hiệu quả kinh tế ngay lập tức. Vai trò quan trọng hơn của nó là nâng cao trình độ tri thức và kỹ thuật chung của xã hội. Khi trình độ đó đủ cao, chúng ta mới có thể tiếp thu, làm chủ và ứng dụng các công nghệ tiên tiến của thế giới, tiến tới có những phát minh có giá trị kinh tế. Thành tích nghiên cứu khoa học mang tính quyết định chất lượng giảng dạy của các trường đại học, nơi đào tạo những cử nhân và kỹ sư, những người được xã hội trao trách nhiệm làm những việc nêu trên.

Việt Nam còn yếu trong khoa học và công nghệ, không thể đòi hỏi liên tục phát minh như Mỹ hay các cường quốc khoa học. Điều quan trọng là phải có một nền khoa học đủ mạnh để đào tạo ra những kỹ sư, những nhà ứng dụng giỏi, những người biết biến tri thức thành của cải.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Sau một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ông đánh giá thế nào về những chuyển động hiện nay?

Một năm là quá ngắn để nói đến thay đổi thực chất trong khoa học và công nghệ. Khoa học công nghệ không vận hành theo nhiệm kỳ hay phong trào.

Điều khiến tôi băn khoăn là thông tin cho thấy hơn 80% ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học công nghệ của Nhà nước được dùng để tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp. Ở các nước phát triển, Nhà nước tập trung tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu dài hạn cho các trường đại học và các viện nghiên cứu của Nhà nước, còn doanh nghiệp và các viện nghiên cứu của các doanh nghiệp phải bỏ tiền của chính họ cho R&D. Mô hình hiện nay ở ta là ngược lại, và tôi cho rằng sớm muộn cũng nên điều chỉnh.

- Với chủ trương hơn 80% ngân sách khoa học dồn cho doanh nghiệp như ông vừa nêu, dường như đang có sự nhầm lẫn về vai trò: Thay vì tạo cơ chế để doanh nghiệp tự vận động, Nhà nước lại đang dùng ngân sách để “làm thay” họ?

Mục đích tồn tại cơ bản của mọi doanh nghiệp là lợi nhuận. Họ chỉ bỏ tiền ra đổi mới công nghệ khi thấy rõ điều đó mang lại hiệu quả kinh tế, giúp họ cạnh tranh. Đó là bài toán sinh tồn nội tại của doanh nghiệp, không phải việc của Nhà nước.

Doanh nghiệp không thể là cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ của nhà nước. Vai trò của Nhà nước là tạo bệ phóng: cung cấp các gói vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế cho R&D, hoặc tạo thị trường bằng cách ưu tiên mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ cao nội địa.

Việc rót trực tiếp hơn 80% kinh phí nghiên cứu khoa học của Nhà nước cho doanh nghiệp là một con số chưa hợp lý. Cách làm này chắc chắn sẽ vấp phải vô vàn rào cản về thủ tục hành chính, đặc biệt là giải ngân, và tiềm ẩn rủi ro tiêu cực.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Chính sách hậu kiểm, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu đang được nhắc đến nhiều. Theo giáo sư, điều cốt lõi ở đây là gì?

Về tinh thần thì đúng, bởi nó đặt niềm tin vào nhà khoa học hơn, không hoàn toàn dựa vào các công trình khoa học đã công bố khi đề tài kết thúc. Nhưng cần phải hiểu rằng hiệu quả chỉ có thể thấy sau ba bốn năm.

Chấp nhận rủi ro nghĩa là chấp nhận thất bại của một số đề tài nghiên cứu do nhà nước tài trợ. Nhưng nếu trong số đó có nhiều những nhóm nghiên cứu thành công thực sự, tạo ra giá trị lâu dài, thì đó vẫn là một cái giá hợp lý. Ở các nước phát triển, danh dự và trách nhiệm trong khoa học rất quan trọng, và là nền tảng của sự tín nhiệm. Một khi đã nhận đề tài nghiên cứu, phần lớn các nhà khoa học đều tự giác hoàn thành đến nơi đến chốn. Tôi hy vọng các nhà khoa học Việt Nam cũng sẽ có trách nhiệm và trọng danh dự như vậy.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Nói về "chấp nhận rủi ro", đây là một điểm sáng trong chính sách mới để cởi trói cho nhà khoa học. Nhưng từ góc nhìn của một người từng quản lý viện nghiên cứu, làm sao để chúng ta phân định được ranh giới giữa "rủi ro khoa học thuần túy" và sự lạm dụng ngân sách, thưa ông?

Việc xây dựng, phê duyệt và triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học ở nước ta vốn trải qua quy trình khá phức tạp, khó có thể mô tả đầy đủ trong phạm vi ngắn gọn. Tuy nhiên, trước đây từng tồn tại tình trạng nhiều đề tài sau khi được phê duyệt thì cứ thực hiện là hoàn thành và được nghiệm thu, dù chất lượng kém. Có thể nói, trong quá khứ và cả giai đoạn gần đây, chúng ta đã “chấp nhận rủi ro” theo cách khá lãng phí; đồng thời cũng xuất hiện không ít trường hợp tiêu cực, thiếu minh bạch nhưng lại có sự né tránh trong xử lý.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

Năm 2009, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học. Kinh phí nghiên cứu tăng lên đáng kể, song Quỹ cũng đặt ra yêu cầu khá chặt chẽ: mỗi đề tài phải có ít nhất hai công bố trên các tạp chí quốc tế ISI uy tín theo danh mục do Quỹ quy định. Vì vậy, đã có không ít đề tài không được nghiệm thu do không đáp ứng được tiêu chí này (dù tôi không rõ có đề tài nào bị xử lý theo pháp luật vì không hoàn thành hay không).

Cơ chế đó đã mở ra một giai đoạn đột phá trong nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam. Từ thời điểm đó đến nay, số lượng và chất lượng các công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam đã tăng lên rõ rệt.

Tuy nhiên, hiện nay chúng ta lại quay trở lại cách tiếp cận “chấp nhận rủi ro”. Điều này có thể khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn hơn, dám thử nghiệm và mạo hiểm trong nghiên cứu; nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ bị một số người cơ hội lợi dụng. Về lâu dài, “chấp nhận rủi ro” là xu hướng nên được ủng hộ, song cần thiết kế cơ chế phù hợp để tránh lạm dụng. Chẳng hạn, nếu một nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài không đạt yêu cầu trong kỳ này, thì ở kỳ sau sẽ không được xem xét phê duyệt đề tài mới.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Chúng ta nói nhiều về "trải thảm đỏ" đón nhân tài. Nhưng thực tế là có làn sóng về rồi lại đi. Là người trong cuộc, ông lý giải thế nào về sự ra đi của họ?

Cũng dễ hiểu thôi. Đừng trách họ. Họ về với nhiệt huyết, nhưng rồi va phải điều kiện sống khó khăn, môi trường khoa học không thuận lợi, môi trường làm việc thiếu minh bạch, những cơ chế vận hành phức tạp mà chỉ người ở đây lâu mới "quen" được. Họ thất vọng, cảm thấy bất lực nên lại ra đi.

Để các nhà khoa học Việt Nam đang sống ở nước ngoài trở về nước làm việc, điều kiện sống, môi trường làm việc, thu nhập, sự tôn trọng học thuật – tất cả phải tương xứng và có sức cuốn hút. Không thể chỉ dựa vào lời kêu gọi hay tinh thần hy sinh. Tôi thấy nhiều nhà khoa học ở nước ngoài đang hỗ trợ các nhà khoa học trong nước từ xa thông qua hợp tác, đào tạo, kết nối quốc tế... Như vậy đã rất đáng quý rồi.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Vậy còn lòng yêu nước và tinh thần hy sinh? Thế hệ của giáo sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Trần Hữu Tước,... đã làm được những điều phi thường trong gian khó cơ mà?

Đừng lấy quá khứ để áp đặt cho hiện tại. Bối cảnh lịch sử mỗi thời mỗi khác. Không thể đòi hỏi các nhà khoa học trẻ bây giờ phải "quên thân" chịu khổ khi mà thế giới ngoài kia đang trải thảm mời gọi họ với điều kiện tốt hơn hẳn.

Trung Quốc mất bao nhiêu năm kêu gọi không được các nhà khoa học trở về nước làm việc, nhưng hiện nay khi kinh tế Trung Quốc đủ mạnh, đãi ngộ cao, nhân tài đang trở về nước làm việc. Việt Nam cũng sẽ không tránh được khỏi con đường đó, tôi nghĩ cần ít nhất 5-10 năm nữa để tích lũy.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Giáo sư có thể chia sẻ về trải nghiệm cá nhân khi làm khoa học?

Làm khoa học giống như đi cày. Rất nặng nhọc. Không phải nặng nhọc chân tay mà là nặng nhọc trí óc. Ban đầu rất hào hứng. Nhưng con đường đi thì đầy gian nan. Khi giải được bài toán rồi, đôi khi lại thấy… hơi thất vọng, vì mọi thứ trở nên quá rõ ràng.

Cảm giác chinh phục một ngọn núi cũng vậy. Khi lên đến đỉnh, nhìn xuống thì thấy mọi thứ bình thường.

- Hiện giờ ông có đang theo đuổi công trình nghiên cứu nào không và dự kiến sẽ kéo dài trong bao lâu?

Tôi cho rằng mình là một người may mắn. Hiện tại, tôi đang thực hiện một đề tài hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học của Đại học Công nghệ Zurich và Đại học Basel,Thụy Sĩ. Dự án này thuộc lĩnh vực Công nghệ Thông tin và Toán Ứng dụng, kéo dài 4 năm, bắt đầu từ tháng 4 năm ngoái và sẽ kết thúc vào tháng 4 năm 2029.

Tại sao tôi nói là may mắn? Bởi vì khi dự án này kết thúc, tôi đã 78 tuổi. Một người ở độ tuổi thất thập cổ lai hy mà vẫn có đề tài để làm, vẫn được cống hiến, đó là một điều rất may mắn và tốt đẹp. Tôi muốn theo gương những người như Giáo sư Hoàng Tuỵ, cống hiến trọn đời cho khoa học.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Ở độ tuổi của ông, phần lớn mọi người chọn nghỉ ngơi. Vậy cường độ làm việc hiện tại của ông như thế nào?

Tôi vẫn làm việc rất tích cực, không khác gì thời trẻ. Hiện tại, nhóm nghiên cứu do tôi chủ trì đang hợp tác một giáo sư từ Thụy Sĩ sang làm việc tại Viện nghiên cứu cao cấp về Toán. Sắp tới, sẽ có thêm ba chuyên gia nữa cùng tham gia. Chúng tôi dự kiến sẽ có đợt làm việc liên tục với cường độ cao trong suốt hai tháng tới ở Viện này.

- Điều gì khiến giáo sư gắn bó với khoa học đến tận hôm nay, dù đã 75 tuổi rồi?

Có người làm khoa học để thăng chức, để có danh vị. Nhưng cũng có những người làm khoa học vì đó là lẽ sống. Với tôi, làm khoa học không chỉ là công việc, mà là cách tốt nhất để kéo dài một cuộc sống hữu ích và tốt đẹp. Đã có một thời gian tôi kết hợp công việc nghiên cứu với công tác quản lý, nhưng không được thành công lắm. Nhưng chính điều này đã giúp tôi hiểu ra rằng chỉ nên dành cuộc đời của mình cho khoa học.

Thật vậy, khi làm việc, tôi thấy sức khỏe mình tốt hơn, tinh thần sảng khoái và hạnh phúc hơn. Khoa học mang lại cho tôi năng lượng sống. Vì vậy, tôi tâm niệm rằng mình sẽ tiếp tục làm khoa học cho đến khi nào trí tuệ và sức khoẻ không cho phép nữa mới thôi.

Mỗi người có một quan niệm sống khác nhau. Không có đúng - sai tuyệt đối. Nhưng đó là con đường phù hợp với tôi.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 2: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”

- Nếu gửi một thông điệp ngắn đến những người hoạch định chính sách khoa học hôm nay, ông sẽ nói gì?

Đừng nóng vội. Hãy thực tế.

Hãy nâng cao trình độ khoa học công nghệ chung của xã hội, rồi mới nghĩ đến những đỉnh cao khoa học công nghệ. Không có phép màu nào cả. Tôi tin rằng lãnh đạo đủ tầm nhìn và đủ kiên nhẫn. Vì thế, Việt Nam chắc chắn sẽ đi lên.

- Xin cảm ơn ông!

GS.TSKH Đinh Dũng sinh năm 1951 tại Thanh Hoá, là nhà khoa học thuộc lĩnh vực Toán ứng dụng và Khoa học Máy tính.

Ông tốt nghiệp đại học (1975), bảo vệ luận án Tiến sĩ (1979) và Tiến sĩ Khoa học (1985) tại Đại học Quốc gia Lô-mô-nô-xốp, Mát-xcơ-va (Liên Xô cũ). Năm 1991, ông là một trong những nhà khoa học trẻ được Nhà nước phong học hàm Giáo sư trực tiếp, không qua học hàm Phó Giáo sư.

GS.TSKH Đinh Dũng nguyên là Viện trưởng đầu tiên của Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội, và hiện là cộng tác viên khoa học của Viện.

Ông đã được mời đọc báo cáo toàn thể tại Đại hội Toán học Châu Á lần thứ ba, 23 – 27.10.2000 tại Manila, Philippines và tại Hội nghị Toán học toàn quốc lần thứ X, 8 – 12.8.2023 tại Đà Nẵng.

Năm 2015, GS.TSKH Đinh Dũng được trao tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu vì công trình khoa học xuất sắc trong lĩnh vực Khoa học Máy tính và Công nghệ thông tin.

Ông là tác giả của 97 bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín trong nước và quốc tế.

Hiện nay, GS.TSKH Đinh Dũng là chủ nhiệm đề tài khoa học hợp tác song phương Việt Nam – Thuỵ sĩ (thời hạn 4 năm) trong lĩnh vực Tính toán khoa học.

MINH KHÔI

Ảnh: HOÀNG MẠNH THẮNG

Đồ họa: AN NHIÊN

MINH KHÔI

Xem phiên bản di động