Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Thưa PGS.TSKH Võ Đại Lược! Sau Nghị quyết 57, hàng loạt hành lang pháp lý cho khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo... đã được ban hành. Nhưng nhiều chuyên gia ví von dòng vốn khoa học – công nghệ hiện nay giống như "nước chứa trong đập nhưng không mở được cửa xả" vì kẹt Luật Ngân sách và Luật Tài sản công. Dưới góc nhìn của ông, điểm nghẽn lớn nhất thực sự nằm ở tiền, hay ở một nơi nào khác?

Đúng là tỷ lệ đầu tư cho phát triển khoa học – công nghệ của Việt Nam tính theo GDP vẫn còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực như Singapore hay Trung Quốc. Đã làm khoa học – công nghệ thì phải có nguồn lực.

Nhưng tôi khẳng định, điểm nghẽn khốc liệt nhất hiện nay không chỉ là tiền, mà là chiến lược con người. Chúng ta cần đặt con người – đặc biệt là nhân tài vào vị trí trung tâm. Nếu không có những bộ óc thực sự xuất chúng tham gia nghiên cứu, thì có rót bao nhiêu tiền cũng không thể có sự phát triển thực chất. Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược trọng dụng nhân tài đúng nghĩa và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3: "Mọi khát vọng vĩ mô về khoa học - công nghệ đều bắt đầu từ không gian kiến tạo cho nhân tài"
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:
PGS.TSKH Võ Đại Lược - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

- Ông nhắc đến cụm từ "cạnh tranh trên thị trường quốc tế". Nhưng chúng ta vẫn thường tự hào rằng trí thức Việt Nam luôn có lòng yêu nước. Xưa kia, có những trí thức sẵn sàng bỏ vinh hoa phú quý về nước cống hiến. Phải chăng ngày nay, nhân tài của chúng ta đang đặt nặng vấn đề thu nhập hơn sự cống hiến?

Yêu nước thì thời nào cũng có, và trí thức người Việt ở nước ngoài hiện nay rất nhiều người nặng lòng với Tổ quốc. Nhưng thị trường nhân tài toàn cầu hiện nay là một thị trường cực kỳ tự do và sòng phẳng. Lòng yêu nước là chưa đủ nếu anh đưa họ về mà không cho họ "đất dụng võ", không trả cho họ một mức đãi ngộ xứng đáng để họ toàn tâm toàn ý sáng tạo.

Tôi có những trải nghiệm thấm thía về câu chuyện này. Cách đây hơn chục năm, tôi từng giới thiệu nhiều sinh viên xuất sắc sang học tại Đại học Harvard. Khi tôi sang thăm, Hiệu trưởng Harvard mời tôi uống cà phê và cảm ơn vì đã gửi đến cho họ những sinh viên rất xuất sắc.

Nhưng điều đáng buồn là gì? Phần lớn họ không quay về Việt Nam làm việc lâu dài!

Có người cháu của tôi, học xong được một trung tâm phần mềm ở Mỹ giữ lại làm giám đốc ngay lúc mới 26-27 tuổi. Họ trả lương 10.000 USD/tháng, cho phép bảo lãnh cả gia đình sang. Một sinh viên khác của tôi, anh Lê Minh Tuấn, về nước một thời gian, nhưng vì cơ chế không phù hợp nên lại quay sang làm cho Ngân hàng Thế giới với mức lương tương tự.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

Chúng ta thử tự hỏi xem: Về Việt Nam, chúng ta có trả được mức lương đó không? Không! Về nước, người tài thường phải bắt đầu từ những vị trí chuyên viên thấp nhất, lương vài triệu đồng, trải qua giai đoạn "thực tập"; và đặc biệt, việc bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo chuyên môn thuần túy đôi khi vẫn bị ràng buộc quá nặng bởi các tiêu chuẩn hành chính và tiêu chí ngoài chuyên môn. Việc đánh đồng tiêu chuẩn của một nhà quản lý nhà nước với một nhà lãnh đạo khoa học thuần túy vô hình trung đang là rào cản đẩy nhân tài ra xa.

Chưa kể, nhiều người giỏi khi về nước lại phải làm việc dưới quyền những người kém năng lực hơn, vấp phải thủ tục hành chính. Trong hoàn cảnh như vậy thì lòng yêu nước cũng không thể giúp họ phát huy được tài năng.

- Quản lý nhà nước đòi hỏi sự chuẩn mực và tính nguyên tắc cao, trong khi khoa học lại cần sự linh hoạt và tính đột phá. Chúng ta cần tìm “điểm chạm” ở đâu để những quy định tuyển dụng không trở thành rào cản, mà là bệ phóng để đón đúng nhân tài, thưa ông?

Chúng ta không cần tìm giải pháp ở đâu xa, hãy nhìn lại bài học từ Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến những nhân tài mà khi nãy anh đề cập.

Những năm 1945-1946, khi đất nước ở thế "ngàn cân treo sợi tóc", Bác Hồ từ Pháp trở về đã mời gọi hàng loạt trí thức lớn như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước... Rất nhiều người trong số họ lúc bấy giờ hoàn toàn không phải là đảng viên. Nhưng Bác vẫn tin tưởng tuyệt đối, giao cho họ những trọng trách cao nhất, thậm chí là Bộ trưởng, để họ kiến thiết quốc gia.

Bác Hồ đánh giá con người bằng lòng yêu nước và năng lực chuyên môn. Ngày nay, trong các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật thuần túy, tại sao chúng ta không dám áp dụng tư tưởng đó của Bác?

Tại sao trưởng một nhóm nghiên cứu, hay viện trưởng một viện khoa học tự nhiên cứ nhất thiết phải chịu sự gò bó của các tiêu chí hành chính? Nếu chúng ta vẫn bó hẹp định nghĩa về "người tài" trong khuôn khổ một tấm thẻ, vô hình trung chúng ta đang tự tước đi cơ hội sở hữu những bộ óc lớn nhất của thời đại.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Có một thực tế là ngân sách cho khoa học thì chật vật, nhưng hàng nghìn tỷ đồng trong quỹ khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn lại đang tồn dư. Thưa ông, chiếc “chìa khóa” nào sẽ giúp phá vỡ nghịch lý này, để tiền từ các quỹ không còn chịu cảnh “nằm chờ cơ chế”?

Nó phản ánh một sự thật: Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam hiện nay không có động lực để đổi mới sáng tạo.

Họ có vốn hàng nghìn tỷ, có đặc quyền vay vốn, lại hoạt động trong những lĩnh vực gần như độc quyền như điện lực, than, khoáng sản... Họ cứ vận hành theo cơ chế hiện tại là đã có lợi nhuận hoặc được Nhà nước bảo đảm (lỗ thì Nhà nước bù). Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro mạo hiểm. Vậy thì tại sao họ phải mạo hiểm làm gì để lỡ sai thì mất ghế?

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Vậy theo ông, đòn bẩy cho sự bứt phá khoa học – công nghệ phải được đặt vào đâu, nếu không phải là các doanh nghiệp nhà đang đóng góp hơn 29% GDP?

Tôi cho rằng, động lực phải nằm ở doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân - nếu không đổi mới họ sẽ “chết”, nên họ khao khát công nghệ nhất.

Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể. Một người bạn của tôi, anh Nguyễn Văn Lạng, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, sau khi nghỉ hưu đã lập công ty tư nhân. Anh bỏ ra 250.000 USD mua một bằng sáng chế của Mỹ về xử lý bùn đỏ bauxite. Sau khi mang về Việt Nam ứng dụng thành công tại Tây Nguyên, doanh nghiệp khai thác bauxite đã phải trả cho anh 2,5 triệu USD. Tức là giá trị tăng gấp 10 lần chi phí ban đầu.

Hay như Tập đoàn TH của bà Thái Hương. Bà ấy sẵn sàng thuê cả một đội ngũ CEO, quản trị, chuyên gia nông nghiệp, công nghệ người nước ngoài để vận hành công ty. Họ dùng người tài, không phân biệt quốc tịch, miễn là làm ra hiệu quả. Đó chính là tư duy dùng người và làm R&D (Nghiên cứu & Phát triển) mà Nhà nước cần học hỏi.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Chúng ta ghi nhận FDI đang đóng góp tới 70% kim ngạch xuất khẩu, nhưng đằng sau con số ấn tượng đó, giá trị gia tăng thực sự mà phía Việt Nam nắm giữ phần nhiều vẫn nằm ở phân khúc gia công, lắp ráp. Phải chăng “mắt xích” quan trọng nhất là hấp thụ công nghệ lõi vẫn đang là khoảng trống lớn nhất của nền kinh tế sau 30 năm thu hút vốn ngoại, thưa ông?

Vấn đề nằm ở triết lý thu hút đầu tư ngay từ đầu. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực từ năm 1988 của ta ưu đãi quá dàn trải: Miễn giảm thuế, giao đất, hỗ trợ đủ thứ để gọi vốn, nhưng lại quên mất "kỷ luật" chuyển giao công nghệ.

Mặc dù gần đây chúng ta đã bắt đầu thu hút được một số tập đoàn lớn đặt trung tâm R&D, nhưng nhìn về tổng thể lịch sử 30 năm, phần lớn FDI vẫn đến tận dụng lao động giá rẻ, điện rẻ, đất rẻ, hết ưu đãi họ có thể rời đi.

Nhìn sang Trung Quốc, trước đây họ ép FDI phải liên doanh với doanh nghiệp nội, và chỉ ưu đãi khi anh có cam kết chuyển giao công nghệ.

Hay như bài học từ Lý Quang Diệu. Thời ông sang Việt Nam làm cố vấn cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông nói thẳng: Singapore chỉ ưu đãi các doanh nghiệp từ châu Âu và Mỹ. Vì sao? Vì các nước phương Tây có luật chống tham nhũng ở nước ngoài rất nghiêm, họ mang công nghệ thật đến. Còn nếu ưu đãi tràn lan cho những khu vực không có tính minh bạch cao, rất dễ đẻ ra cơ chế "lại quả" với quan chức địa phương. Đã đến lúc chúng ta phải siết lại, chỉ trải thảm đỏ cho FDI mang theo R&D và công nghệ cao.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Ông nhấn mạnh nhiều đến việc mở cửa để đón nhận tri thức toàn cầu. Tuy nhiên, từ thực tiễn, nhiều ý kiến cho rằng các quy định quản lý hành chính hiện hành đối với hoạt động giao lưu học thuật quốc tế đang chưa thực sự linh hoạt. Theo ông, độ trễ về mặt thủ tục này tác động ra sao đến nhịp độ của "hệ sinh thái" đổi mới sáng tạo?

Sự trói buộc về hành chính đang làm mất đi tính năng động, thậm chí làm lỡ nhịp hội nhập của hệ sinh thái. Đổi mới sáng tạo bản chất là sự giao thoa, là quá trình va chạm liên tục với các dòng chảy ý tưởng quốc tế.

Tôi lấy một ví dụ rất đáng suy ngẫm từ năm ngoái. Có hai chuyên gia Cuba sang Việt Nam trong 1 tuần để tìm hiểu về đổi mới kinh tế, và một cơ quan đã mời tôi trao đổi cùng họ. Thế nhưng, quy trình xin phép tiếp xúc học thuật phải đi qua các Bộ ngành và mất tới vài tháng mới hoàn tất. Nếu cứ chờ thủ tục xong thì các chuyên gia đã về nước. Cuối cùng, Đại sứ quán đành cử cán bộ người Việt đến phỏng vấn tôi, ghi hình lại để mang về cho chuyên gia Cuba xem.

Hay nhìn lại quá khứ, có một sự tương phản thế này: Ngày trước, ngay cả khi chúng ta còn chịu cấm vận, lúc tôi làm Viện trưởng (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới – PV) và tiếp nhận khoản tài trợ nghiên cứu vài chục nghìn đô la từ Quỹ Ford, việc triển khai lại diễn ra rất nhanh chóng và linh hoạt.

Hiện nay, vị thế quốc gia đã khác. Chúng ta đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các cường quốc, tư duy đối ngoại vĩ mô rất rộng mở. Nhưng ở cấp độ thực thi, việc quản lý quan hệ học thuật lại có dấu hiệu hành chính hóa nặng nề. Chúng ta kỳ vọng vào những đột phá công nghệ mang tầm quốc tế, nhưng điều đó rất khó xảy ra nếu không gian học thuật vẫn vô tình bị thu hẹp bởi những thủ tục hành chính.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:
Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Thưa ông, nếu được đề xuất một cơ chế mang tính "đòn bẩy" để tạo bước ngoặt cho hệ thống khoa học - công nghệ cũng như bài toán trọng dụng nhân tài hiện nay, ông sẽ ưu tiên những giải pháp cốt lõi nào?

Theo tôi, ưu tiên hàng đầu là phải thiết kế được các "Đặc khu thể chế cho Đổi mới sáng tạo". Hạn chế của các Khu công nghệ cao ở nước ta hiện nay là bộ máy vận hành vẫn mang dáng dấp của một đơn vị quản lý hành chính thông thường, bị ràng buộc bởi quá nhiều quy trình trung gian.

Nhìn ra thế giới, Thung lũng Silicon (Mỹ) thành công vượt bậc vì họ sở hữu một không gian pháp lý mang tính đặc thù và độ mở cực kỳ cao, vượt ra khỏi các khung quy định truyền thống. Ở những mô hình lõi như vậy, các trung tâm R&D (Nghiên cứu và Phát triển) bắt buộc phải chiếm tỷ trọng lên tới 80%.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

Thứ hai là tư duy về Quỹ đầu tư mạo hiểm của Nhà nước. Nguồn quỹ này không nên vận hành theo cơ chế cấp phát dàn trải, cũng không thể e ngại rủi ro theo kiểu quản lý ngân sách truyền thống. Thay vào đó, Nhà nước cần đóng vai trò như một "nhà đầu tư thiên thần": Chủ động tìm kiếm và "rót vốn" vào những phát minh, sáng chế của khối tư nhân đã định hình rõ tính khả thi. Việc cung cấp bệ phóng tài chính với cơ chế linh hoạt, thậm chí hỗ trợ vốn với lãi suất 0%, chính là bước đệm quyết định để biến các ý tưởng trên giấy thành sản phẩm thương mại hóa.

- Thế còn câu chuyện thù lao cho chất xám thì sao, thưa ông? Nhiều người vẫn nói nước ta còn nghèo, không thể trả lương "khủng" cho một vài cá nhân kiệt xuất để tạo ra sự chênh lệch quá lớn trong xã hội, thậm chí những người cùng vị trí.

Đó là tư duy cào bằng tai hại! Trả cho một nhà khoa học tài năng 10.000 USD/tháng mà họ tạo ra cho đất nước những giá trị hàng triệu USD, xây dựng nên những ngành công nghiệp mới, thì mức lương đó là quá rẻ!

Năm 1990, phía Nhật Bản từng mời tôi sang làm việc với mức thù lao 7.000 USD/tháng. Đó là một số tiền lớn lúc bấy giờ. Trong 3 tháng đó, các bộ ngành của Nhật Bản liên tục mời tôi đến báo cáo về công cuộc Đổi mới của Việt Nam. Họ trả tiền cực cao để mua "tri thức" và sự thấu hiểu về một thị trường mới. Khi kết thúc, họ nói: "Từ báo cáo này, quan hệ Nhật - Việt sẽ bước sang một giai đoạn mới".

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

Thế giới họ trân trọng tri thức và trả giá sòng phẳng cho tri thức như vậy. Khoa học – công nghệ không có chỗ cho sự ban ơn hay tư duy hành chính xin - cho. Khi nào thể chế của chúng ta chấp nhận trả giá xứng đáng cho chất xám, xóa bỏ mọi rào cản hành chính, cứng nhắc trong nghiên cứu khoa, thì khi đó, nhân tài tự khắc sẽ trở về!

- Bên cạnh khát vọng thu hút trí thức trẻ từ nước ngoài, bài toán phát huy tối đa nguồn lực chuyên gia đầu ngành ở trong nước cũng là một thách thức lớn. Thực tế, khi bước đến tuổi nghỉ hưu theo quy định hành chính, nhiều nhà khoa học lại đang ở độ "chín" nhất về cả trí tuệ lẫn mạng lưới quan hệ quốc tế. Dù cơ chế hiện nay luôn khuyến khích và tạo điều kiện để họ tiếp tục làm nghề, nhưng theo ông, chúng ta cần thêm những "cú hích" chính sách nào để sự cống hiến của họ mang tính hệ thống và hiệu quả hơn, thay vì phụ thuộc nhiều vào nỗ lực cá nhân?

Các nghiên cứu trên thế giới từng chỉ ra rằng, những bộ óc thực sự xuất chúng và có tầm nhìn dẫn dắt chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tháp dân số. Ở Việt Nam, những chuyên gia kiệt xuất như vậy cũng đếm trên đầu ngón tay. Do đó, việc họ đến tuổi nghỉ hưu hành chính tuyệt đối không đồng nghĩa với việc tư duy khoa học của họ "nghỉ hưu".

Thực tế chứng minh, đối với nhiều nhà khoa học, khi trút bỏ được gánh nặng họp hành, quản lý, từ độ tuổi 60 trở đi mới thực sự là giai đoạn rực rỡ nhất để họ toàn tâm toàn ý tập trung cho nghiên cứu và dẫn dắt thế hệ kế cận. Bản thân tôi, sau khi rời ghế Viện trưởng, tôi vẫn liên tục chủ trì các chương trình khoa học cấp Quốc gia, đóng góp nhiều kiến nghị cốt lõi cho cơ quan hoạch định chính sách.

Khoa học là một mỏ vàng không cạn kiệt. Cơ chế của chúng ta dù đã mở cửa, nhưng để tận dụng triệt để "mỏ vàng" này, chúng ta cần những chính sách trọng dụng đặc thù hơn cho nhóm tinh hoa, vượt ra ngoài các khung hợp đồng lao động thông thường. Cần quản trị và đánh giá các nhà khoa học bằng hiệu quả chất xám và giá trị tầm nhìn, thay vì đóng khung họ trong những định mức hành chính hay cuốn sổ hưu.

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Câu hỏi cuối cùng, thưa ông: Chúng ta đã có những định hướng chiến lược rất lớn, điển hình như Nghị quyết 57 cùng một khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu khâu thể chế hóa và thực thi ở các cấp cơ sở không theo kịp tầm nhìn vĩ mô này, thì đâu là "chi phí cơ hội" hay cái giá đắt nhất mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong 1-2 thập kỷ tới?

Cái giá lớn nhất không đơn thuần là những con số tăng trưởng chậm lại, mà là nguy cơ chúng ta bị lỡ nhịp hoàn toàn với quỹ đạo tiến hóa công nghệ của nhân loại.

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của AI, của công nghiệp bán dẫn với tốc độ vũ bão. Nếu thể chế quản lý khoa học - công nghệ không tạo ra được sự bứt phá, chúng ta sẽ phải đối mặt với một chuỗi hệ lụy vĩ mô: Nguồn nhân lực tinh hoa tiếp tục dịch chuyển ra bên ngoài, sức cạnh tranh của khối doanh nghiệp nội địa khó vươn lên chuỗi giá trị cao hơn, khối FDI vẫn sẽ định vị chúng ta ở phân khúc gia công, và những nguồn lực tài chính lớn từ khu vực nhà nước vẫn ách tắc chờ cơ chế. Khi đó, Việt Nam không chỉ tụt hậu, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành vùng trũng tiếp nhận những công nghệ thứ cấp, kém rủi ro nhưng đi kèm với hiệu suất thấp mà thế giới đã bước qua.

Sức bật của một quốc gia trong kỷ nguyên mới không được đo đếm bằng những bản chiến lược nằm trên giấy, mà bằng những quyết sách thực tế diễn ra mỗi ngày. Đó là việc ngày mai, chúng ta có sẵn sàng tháo gỡ dứt điểm một rào cản thủ tục cho một nhóm nghiên cứu, hay có một cơ chế đủ mạnh để giữ chân một trí thức trẻ xuất sắc đang chuẩn bị rời đi hay không. Mọi khát vọng vĩ mô về khoa học - công nghệ, suy cho cùng, đều phải bắt đầu từ một điểm cốt lõi nhất: Đó là sự trân trọng và không gian kiến tạo dành cho nhân tài!

Tìm “đòn bẩy” cho trí tuệ Việt trong kỷ nguyên mới - Bài 3:

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

PGS.TSKH Võ Đại Lược nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (giai đoạn 1983 - 2004).

Trong quá trình công tác, ông từng được tín nhiệm giữ vai trò Thành viên Tổ tư vấn của các Tổng Bí thư: Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười; đồng thời là Thành viên Ban Nghiên cứu kinh tế của các Thủ tướng: Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải.

Bên cạnh vai trò tham mưu chính sách, PGS.TSKH Võ Đại Lược còn là chủ nhiệm của nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước. Hiện nay, ông đang tiếp tục công tác và cống hiến tại Trung tâm Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.

Thực hiện: MINH KHÔI

Ảnh: HOÀNG MẠNH THẮNG

Đồ họa: AN NHIÊN