| Tâm huyết và kỳ vọng gửi đến Quốc hội khoá XVI |
Trong nhiệm kỳ tới, tôi xác định rõ những mục tiêu của mình không chỉ là hoàn thành tốt vai trò của một đại biểu Quốc hội chuyên trách, mà còn là góp phần thúc đẩy những đột phá cần thiết cho văn hóa Việt Nam, cho Thủ đô Hà Nội, và cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ảnh: QH |
Khi kết quả trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI được công bố, điều hiện lên rõ nhất trong tôi không phải chỉ là niềm vui. Niềm vui là có thật, niềm xúc động cũng là có thật, nhưng đọng lại sâu hơn cả vẫn là cảm giác trách nhiệm.
Bởi tôi hiểu rằng, lá phiếu của cử tri không chỉ là sự ghi nhận những nỗ lực đã qua, mà trước hết là sự gửi gắm cho chặng đường phía trước. Cử tri không bầu một danh vị. Cử tri đặt niềm tin vào một con người để người ấy thay mặt mình nói lên tiếng nói của cuộc sống, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, và góp phần định hình những chính sách lớn của đất nước.
Vì thế, chương trình hành động của tôi trong Quốc hội khóa XVI không phải là một bản liệt kê công việc theo nghĩa hành chính, mà là một lời hứa chính trị, một cam kết đạo đức và một định hướng hành động gắn với những điều tôi đã suy nghĩ, trăn trở, theo đuổi trong nhiều năm làm việc trong lĩnh vực văn hóa cũng như trong thời gian công tác tại Quốc hội.
Mục tiêu đầu tiên và cũng là nền tảng nhất, đó là hoàn thành tốt nhiệm vụ của một đại biểu Quốc hội chuyên trách công tác tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội. Nghe thì có vẻ quen thuộc, nhưng thực ra đây là một yêu cầu rất lớn. Bởi một đại biểu chuyên trách không chỉ cần tham gia đầy đủ vào quy trình lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mà còn phải đem đến cho nghị trường một chiều sâu chuyên môn, một khả năng phản ánh trung thực đời sống, và một tinh thần theo đuổi đến cùng những vấn đề cử tri quan tâm.
Với tôi, điều này càng có ý nghĩa khi bản thân đã có một quá trình dài làm việc trong ngành văn hóa và nhiều năm trực tiếp tham gia hoạt động của Quốc hội. Kinh nghiệm tích lũy ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực phục vụ tốt hơn cho cử tri, thành khả năng kết nối nhanh hơn giữa nguyện vọng của nhân dân với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Tôi luôn nghĩ rằng, đại biểu Quốc hội không thể chỉ là người xuất hiện trong những phiên họp. Đại biểu phải là cầu nối sống động giữa nghị trường và đời sống. Cầu nối ấy phải đủ gần để nghe được những điều rất cụ thể từ cử tri, nhưng cũng phải đủ bản lĩnh để đưa những điều rất cụ thể ấy vào không gian chính sách vĩ mô.
Bởi vậy, mục tiêu thứ nhất của tôi trong nhiệm kỳ tới là làm tốt hơn nữa vai trò cầu nối ấy: tiếp nhận ý kiến cử tri một cách đầy đủ, chuyển tải đến Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền một cách nhanh nhất, và kiên trì theo dõi đến cùng kết quả giải quyết. Nói cách khác, tôi muốn công việc đại biểu không chỉ dừng ở “phản ánh”, mà phải tiến tới “thúc đẩy thay đổi”.
Mục tiêu thứ hai của tôi là tập trung vào những vấn đề mang tính đột phá trong phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm sắp tới. Đây không chỉ là lĩnh vực chuyên môn của tôi, mà còn là một trong những trục phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn mới.
Điều tôi quan tâm ở đây không phải chỉ là phát triển thêm bao nhiêu thiết chế, tổ chức thêm bao nhiêu sự kiện, hay ban hành thêm bao nhiêu chương trình, mà là xử lý được những mối quan hệ cốt lõi, có tính biện chứng, quyết định chất lượng phát triển văn hóa trong dài hạn.
Đó trước hết là mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người. Chúng ta không thể nói đến phát triển văn hóa mà bỏ qua con người, bởi suy cho cùng, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người thụ hưởng, vừa là đích đến của mọi chính sách văn hóa.
Tinh thần này cũng rất gần với yêu cầu trong các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80, trong đó nhấn mạnh việc đề cao con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất của phát triển bền vững; đồng thời coi việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, hiện đại là một nhiệm vụ trọng yếu.
![]() |
| Cử tri cao tuổi bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu số 1 thuộc đơn vị bầu cử số 1 xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Quang Cường/TTXVN |
Khi xác định như vậy, chương trình hành động của tôi sẽ hướng đến việc thúc đẩy những chính sách không chỉ nuôi dưỡng đời sống tinh thần, mà còn hình thành chuẩn mực con người Việt Nam trong bối cảnh mới: yêu nước, trách nhiệm, sáng tạo, nhân văn và có khả năng thích ứng với thời đại số.
Mối quan hệ thứ hai là giữa bảo tồn và phát triển. Đây là một câu chuyện tôi đã trăn trở từ nhiều năm nay. Nếu bảo tồn chỉ theo hướng giữ lại, đóng khung, thì di sản có thể trở thành một ký ức bất động. Nhưng nếu phát triển bằng mọi giá, không đặt trên nền tảng tôn trọng bản sắc, thì chúng ta có thể đánh mất chính những nguồn lực sâu bền nhất của mình.
Vì vậy, tôi muốn trong nhiệm kỳ tới, việc xây dựng chính sách văn hóa phải tiếp cận theo hướng coi di sản không chỉ là đối tượng bảo vệ, mà còn là nguồn lực phát triển, là nền tảng của kinh tế di sản, của du lịch văn hóa, của thương hiệu địa phương và của sức mạnh mềm quốc gia. Tinh thần này cũng tương ứng với định hướng nhận diện đầy đủ tài nguyên văn hóa, lấy di sản văn hóa là trung tâm, gắn bảo tồn với sinh kế cộng đồng và phát triển bền vững.
Mối quan hệ thứ ba là giữa văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục. Tôi cho rằng, đây là một điểm có tính bản lề. Trong nhiều năm, chúng ta thường nói văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng để thực hiện được điều đó thì cần một hệ thống chính sách đủ mạnh để văn hóa thật sự thấm sâu vào quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển.
Các chương trình hành động gần đây về triển khai Nghị quyết 80 đều nhấn mạnh yêu cầu văn hóa phải hiện diện trong mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn, tiêu chuẩn cao và gắn với các đột phá về khoa học, công nghệ, giáo dục và chuyển đổi số. Đây cũng chính là định hướng tôi muốn theo đuổi ở nghị trường: không xem văn hóa là một lĩnh vực “đi sau”, mà là một trụ cột điều tiết phát triển.
Chính từ những nhận thức đó mà mục tiêu thứ ba của tôi là góp sức sửa đổi một số luật quan trọng của ngành văn hóa, trong đó có Luật về phát triển công nghiệp văn hóa và Luật về hoạt động nghệ thuật. Tôi cho rằng đây không chỉ là nhu cầu kỹ thuật của hoạt động lập pháp, mà là yêu cầu cấp bách của thực tiễn.
Bối cảnh xã hội đã thay đổi rất nhanh. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, nền tảng xuyên biên giới, kinh tế sáng tạo, thị trường nội dung số, bản quyền số, các mô hình biểu diễn mới… đang làm thay đổi căn bản cách tạo ra, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Nếu thể chế không theo kịp, chúng ta sẽ không chỉ bỏ lỡ cơ hội phát triển mà còn rất khó quản trị hiệu quả.
Tôi mong muốn việc sửa đổi các luật này sẽ tạo ra một hành lang pháp lý đủ cởi mở cho sáng tạo, đủ minh bạch cho thị trường, đủ tiên tiến cho hội nhập, nhưng cũng đủ vững chắc để bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc và lợi ích quốc gia. Tinh thần “tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế”, bảo đảm tính khả thi, tính đồng bộ, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hóa tiếp cận công nghệ tiên tiến và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa cũng là những định hướng đã được nhấn mạnh rất rõ trong các chương trình hành động triển khai Nghị quyết 80. Với tôi, đây là một chỉ dấu quan trọng cho thấy cải cách thể chế văn hóa trong nhiệm kỳ tới không thể chậm thêm nữa.
Mục tiêu thứ tư là phối hợp với các bộ, ban, ngành để thúc đẩy một số việc cần phải hành động ngay, nhằm tạo ra đột phá trong phát triển văn hóa. Tôi cho rằng trong lĩnh vực văn hóa, điều chúng ta thiếu không chỉ là chiến lược, mà đôi khi còn thiếu cả những cơ chế hành động đủ cụ thể để biến chiến lược thành chuyển động. Bởi vậy, tôi đặc biệt quan tâm đến hai việc.
Thứ nhất là tổ chức diễn đàn văn hóa quốc gia, nơi quy tụ đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, doanh nghiệp văn hóa, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng sáng tạo để cùng hiến kế cho những vấn đề lớn của văn hóa nghệ thuật nước nhà.
Tôi tin rằng muốn phát triển văn hóa thì trước hết phải khơi dậy được trí tuệ xã hội, phải tạo ra những không gian đối thoại thực chất giữa chính sách với đời sống sáng tạo. Việc các chương trình hành động hiện nay coi hội thảo khoa học, cơ chế phối hợp liên ngành và huy động vai trò văn nghệ sĩ, trí thức như lực lượng nòng cốt cũng cho thấy đây là hướng đi đúng.
Thứ hai là xây dựng bộ chỉ số phát triển văn hóa quốc gia. Nói đến phát triển thì phải có công cụ đo lường. Không đo lường được thì rất khó đánh giá đúng thực trạng, khó so sánh, khó điều chỉnh chính sách và càng khó tạo ra động lực cạnh tranh tích cực giữa các địa phương.
Một bộ chỉ số phát triển văn hóa quốc gia, nếu được xây dựng bài bản, khoa học, có khả năng lượng hóa cả thiết chế, nguồn lực, mức hưởng thụ, năng lực sáng tạo, đóng góp của công nghiệp văn hóa, mức độ số hóa và sức sống cộng đồng, sẽ là công cụ rất quan trọng để đưa văn hóa từ chỗ “được nhắc tới nhiều” sang chỗ “được quản trị hiệu quả hơn”.
![]() |
| Khoảnh khắc cử tri bỏ lá phiếu vào hòm phiếu - hành động thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị của đất nước. Ảnh: Khánh Hoà/TTXVN |
Mục tiêu thứ năm gắn với tư cách là đại biểu của Hà Nội. Với tôi, đây vừa là niềm vinh dự, vừa là một thách thức lớn. Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính nơi mình ứng cử. Hà Nội là Thủ đô, là nơi lắng hồn núi sông ngàn năm, là bộ mặt của quốc gia, là không gian kết tinh những giá trị văn hiến, thanh lịch, sáng tạo và khát vọng phát triển của dân tộc.
Vì thế, chương trình hành động của tôi tại Hà Nội không chỉ dừng ở việc giải quyết các vấn đề địa phương theo nghĩa hẹp, mà hướng tới việc góp phần để Hà Nội trở thành hình mẫu về phát triển văn hóa trong thời đại mới.
Tôi sẽ tập trung vào việc thực hiện thành công Chương trình hành động mà Thành phố đã cam kết với UNESCO cho danh hiệu Thành phố sáng tạo, để sáng tạo không chỉ là thương hiệu, mà trở thành thành tố bao trùm cho mọi hoạt động của Thủ đô: từ quy hoạch không gian, giáo dục, thiết kế đô thị, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, đến đời sống cộng đồng.
Song song với đó là những vấn đề cốt lõi khác: xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; gìn giữ làng nghề thủ công, nghệ thuật truyền thống; phát triển các không gian sáng tạo; để văn hóa không chỉ là ký ức của Hà Nội mà là động lực phát triển bền vững của Hà Nội hôm nay và ngày mai.
Suy cho cùng, tất cả những mục tiêu ấy đều gặp nhau ở một điểm chung: làm sao để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển, làm sao để hoạt động của đại biểu Quốc hội thực sự đi vào cuộc sống, và làm sao để niềm tin mà cử tri trao gửi không dừng lại ở ngày bầu cử mà tiếp tục được nuôi dưỡng bằng kết quả cụ thể trong cả nhiệm kỳ.
Tôi bước vào Quốc hội khóa XVI với một niềm tin rất rõ: muốn đất nước phát triển nhanh và bền vững thì phải giải quyết đồng thời bài toán thể chế, bài toán con người và bài toán văn hóa. Và tôi cũng bước vào nhiệm kỳ mới với một lời nhắc nhở rất nghiêm túc với chính mình: mọi chương trình hành động chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể, những chính sách thiết thực, những tiếng nói có trách nhiệm tại nghị trường và những kết quả có thể kiểm chứng trong đời sống.
Sự tín nhiệm của cử tri là một vinh dự lớn. Nhưng với tôi, đó trước hết là một bổn phận. Tôi mong được tiếp tục cống hiến sức lực, trí tuệ và tâm huyết của mình để xứng đáng là người đại diện của cử tri Hà Nội nói riêng, của Nhân dân cả nước nói chung, trong một nhiệm kỳ Quốc hội có nhiều cơ hội lớn nhưng cũng nhiều đòi hỏi lớn.
Và tôi tin rằng, nếu luôn giữ được tinh thần gần dân, hiểu dân, vì dân; nếu luôn đặt văn hóa và con người ở vị trí trung tâm của phát triển; nếu luôn kiên trì với những điều đúng và cần thiết, thì chương trình hành động ấy sẽ không chỉ là lời hứa, mà sẽ trở thành một phần của những chuyển động tích cực trong Quốc hội khóa XVI và trong đời sống đất nước.
Nhìn lại chặng đường Quốc hội khóa XV, trong tôi có nhiều cảm xúc đan xen. Có niềm tự hào vì Quốc hội đã đi ... |
| PGS. TS. Bùi Hoài Sơn là Đại biểu Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021–2026), Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Khoá XV. Chiều 21.3, theo kết quả bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI (nhiệm kỳ 2026-2031) của Hội đồng bầu cử quốc gia, ông Bùi Hoài Sơn được 392.297 phiếu, đạt tỷ lệ 76,15% số phiếu hợp lệ và đã trúng cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI. Trước khi tham gia Quốc hội, ông Bùi Hoài Sơn có hơn 20 năm làm việc trong lĩnh vực văn hóa và từng là Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam. |
Tin mới hơn
Từ lời hứa đến hành động - những trăn trở và kỳ vọng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Tin tức khác
Sắc màu biên cương trong ngày hội toàn dân tại Mường Lát
Gần 1,2 triệu cử tri tỉnh Quảng Trị gửi gắm niềm tin qua từng lá phiếu
Xe buýt vượt núi đưa cử tri đến điểm bầu cử
Mang hòm phiếu đến tận giường bệnh
Hơn 2 triệu cử tri TP Đà Nẵng tham gia Ngày hội non sông


