Ngày 28.1.1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Kỷ niệm 85 năm Người về nước (28.1.1941- 28.1.2026) sau hành trình 30 năm tìm đường cứu nước (1911-1941) là dịp để chúng ta nhìn lại hành trình cách mạng có tính chất quyết định của một lãnh tụ đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng, cho nền độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc.
Hành trình từ Hang Pác Bó (Cao Bằng) đến Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) không chỉ là một giới hạn của không gian, quảng đường địa lý mà là quá trình xây dựng đường lối, tổ chức lực lượng, tập hợp quần chúng và dẫn dắt một cuộc cách mạng toàn dân, giành chính quyền toàn quốc và khai sinh nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
![]() |
| Ảnh minh họa của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Cao Bằng. |
1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam và thế giới trước năm 1941
Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, phát xít Đức lần lượt chiếm đóng các nước Tây Âu. Đến cuối năm 1940, Đức đã chuẩn bị mọi lực lượng để tấn công Liên Xô.
Ở châu Á, phát xít Nhật đánh chiếm Trung Quốc và một số nước khác. Chủ nghĩa phát xít đã đe dọa đến sự tồn vong của loài người. Trong bối cảnh đó, Quốc tế Cộng sản họp tìm cách đối phó với chủ nghĩa phát xít, kêu gọi nhân dân thế giới liên minh, đoàn kết cùng nhau chống chủ nghĩa phát xít Đức - Ý - Nhật. Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có những chuyển biến mới, đặc biệt dân tộc nào có sự chuẩn bị tốt, nắm vững thời cơ và nắm bắt thời cơ sẽ giành được chính quyền.
Cùng với sự chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới, tình hình và tình thế cách mạng trong nước cũng có sự thay đổi nhanh chóng.
Năm 1940, phát xít Nhật nhân cơ hội đó xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp từng bước nhân nhượng, thỏa hiệp với phát xít Nhật để áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương. Mâu thuẫn dân tộc càng ngày càng gay gắt và nhân dân ta đã liên tục nổi dậy chống lại ách cai trị của Pháp và Nhật.
Tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ diễn ra và đến tháng 1 năm 1941 bùng nổ khởi nghĩa Đô Lương. Cách mạng Đông Dương đang phát triển theo chiều hướng có lợi.
Hoàn cảnh lịch sử thế giới và bối cảnh lịch sử trong nước đã có nhiều thay đổi, cần phải có sự chỉ đạo trực tiếp và kịp thời của một lãnh tụ để nhanh chóng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng, đưa phong trào đấu tranh phát triển lên đỉnh cao để giành độc lập cho Đông Dương. Muốn đấu tranh chống cả 2 kẻ thù là Pháp và Nhật thì nhất thiết, cần thiết phải tập trung được lực lượng cách mạng trên toàn cõi Đông Dương.
![]() |
Bác Hồ về thăm Cao Bằng năm 1961. Ảnh: Tư liệu. |
“Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. 1
2. Hành trình trở về với Hang Pác Bó - điểm khởi đầu chiến lược của cách mạng Việt Nam
Với khát vọng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, ngày 5.6.1911, tại Cảng Nhà Rồng - Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc để thức hiện cuộc hành trình cứu nước, cứu dân. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn bể, vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn để thực một khát khao cháy bỏng: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. 2
Tháng 7 năm 1920, Người đã đọc Luận cương của Lê Nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đăng trên báo Nhân đạo và đến tháng 12/1920, Người đã tham dự Đại hội Tua (Pháp), kiên quyết đứng về Quốc tế thứ III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước chân chính, Người đã trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. 3
Tháng 9 năm 1938, được sự chấp thuận của Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Diên An (Trung Quốc), tìm cơ hội trở về nước hoạt động cách mạng. Đầu năm 1940, với bí danh “Hồ Quang”, “ông Trần”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây, nhằm chuẩn bị về nước.
Lúc đầu Người dự kiến về nước theo tuyến đường sắt Côn Minh nối với Lào Cai, nơi có nhiều gia đình công nhân người Việt Nam đang làm việc và sinh sống thành từng làng. Thế nhưng, ý định trở về nước theo hướng này, cách này không thể thực hiện được, khi cầu Hồ Kiều - chiếc cầu lớn trên tuyến đường sắt Việt - Điền nối Trung Quốc với Việt Nam bị máy bay Nhật đánh sập ngày 10/9/1940, cửa khẩu lớn giữa hai nước bị đóng lại.
Cuối cùng, sau khi nghiên cứu cụ thể tình hình, Người quyết định về theo hướng mới là Cao Bằng.
Đầu tháng 1 năm 1941, tại Tỉnh Tây, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Người đã gặp và chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Thụ (do Trung ương lâm thời cử từ Việt Nam sang) chuẩn bị tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương.
Ngày 28.1.1941 (tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ), được các cán bộ địa phương dẫn đường, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về nước qua cột mốc 108 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng (Cao Bằng). Sau đó một thời gian ngắn, ngày 8.2.1941, Người chuyển đến hang Pắc Bó (Cốc Bó), một hang núi kín đáo ở thôn Pác Bó để đặt cơ sở cách mạng. Cùng về nước với Người còn có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc và Đào Thế An.
Hành trang của Người khi về nước chỉ có vỏn vẹn một chiếc vali mây, bên trong có đựng chiếc máy chữ và một số tài liệu quan trọng khác, trong đó có chiếc lá cờ đỏ sao vàng, sau này được sử dụng trong Hội nghị Trung ương VIII (5.1941) tại lán Khuổi Nậm.
Với tầm nhìn chiến lược của một nhà cách mạng thiên tài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Cao Bằng là điểm đặt chân, dừng chân đầu tiên khi Người về Tổ quốc. Bởi “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc với quốc tế rất thuận lợi”. 4
Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn Pác Bó để xây dựng căn cứ địa cách mạng không phải là sự lựa chọn tình cờ, ngẫu nhiên mà là một sự tìm hiểu, nghiên cứu,kỹ lưỡng liên quan đến việc phát triển phong trào cách mạng trên cả nước.
Trước hết, Cao Bằng là một tỉnh miền núi, có đường biên giới với Trung Quốc dài 333km, gần thành phố Long Châu - một trong những trung tâm cách mạng của người Việt Nam ở Trung Quốc bấy giờ, đồng thời rất thuận lợi cho giao thông liên lạc. Đặc biệt, Cao Bằng có địa thế hiểm trở, là địa bàn thực dân Pháp khó kiểm soát. Khi lực lượng cách mạng phát triển, cơ sở cách mạng được mở rộng có thể nhanh chóng “Đông tiến” xuống Lạng Sơn, “Nam tiến” xuống Thái Nguyên và “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang cũng như các tỉnh vùng trung du Bắc bộ.
Từ tầm nhìn chiến lược của một lãnh tụ, Người đã phát hiện ra Cao Bằng là nơi hội đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng, nơi “đi đầu trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”, từ đó mở rộng ra toàn quốc.
Người chỉ rõ: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên thì khi phát động đấu tranh vũ trang, luận thuận lợi có thể công, lúc khó khăn có thể thủ”. 5
Với những thuận lợi cơ bản đó, Nguyễn Ái Quốc quyết định xây dựng Cao Bằng thành căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Cao Bằng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trung tâm đầu não của phong trào cách mạng cả nước, “mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta”.
![]() |
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đoàn cán bộ cách mạng về Pắc Bó , vào ngày 28-1-1941. Tranh: Trịnh Phòng. |
Hang Pác Bó không đơn thuần là nơi trú ẩn. Đó là trung tâm chính trị, cơ quan chỉ đạo, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sống, làm việc, gặp gỡ, truyền đạt chủ trương và xây dựng căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn đầu Người mới về nước.
3. Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của cuộc hành trình 1941-1945.
Mùa Xuân Bính Ngọ 2026, toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân ta kỷ niệm tròn 85 Xuân ngày Bác Hồ trở về Tổ quốc (28.1.1941 - 28.1.2026). Đầu năm 2026, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV mở ra một bước ngoặt mới, kỷ nguyên mới của đất nước.
Pác Bó của Cao Bằng là quê hương có nhiều lý do để may mắn được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn là nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng của Đảng khi Người vừa về Tổ quốc sau 30 năm tìm đường cứu nước, cứu dân.
Tháng 2 năm 1961, tròn 20 năm sau, Bác Hồ đã từ Hà Nội lên thăm lại Cao Bằng, về với hang Pác Bó, suối Lê Nin, Núi Các Mác, lán Khuổi Nậm… Hình ảnh vị cha già dân tộc trong trang phục giản dị, ân cần thăm hỏi các cụ già, em nhỏ bằng thứ tiếng của đồng bào dân tộc Nùng- thứ tiếng mà Người đã học được từ khi còn hoạt động ở Pắc Bó đã làm xúc động biết bao nhiêu người.
Lúc sinh thời, Người đã từng nói: “Cao Bằng là quê hương thứ hai của tôi” và “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc như trước đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc…”. 6
Sự kiện Bác Hồ trở về Tổ quốc vào mùa Xuân của 85 năm trước đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước và sự phát triển của lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Hành trình trở về quê hương, đất nước của Người sau 30 năm bốn ba năm châu bốn bể để tìm đường cứu nước, cứu dân mang một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Bằng trí lực, tâm lực và sức lực và một trái tim luôn nghĩ, luôn hướng về nước, về dân, Người đã cùng Trung ương Đảng hoàn chỉnh và phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng cùng toàn Đảng, toàn dân hướng vào một mục tiêu cao nhất là giành độc lập dân tộc và chính quyền về tay nhân dân.
Đồng thời, để tiến hành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi, Người đã luôn quan tâm, củng cố cơ sở tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương, đoàn kết, tập hợp các lực lượng yêu nước tham gia vào Mặt trận Việt Minh, tham gia vào cuộc vận động giải phóng dân tộc. Bên cạnh đó, đối với quốc tế, quyết định của Người trở về Tổ quốc vào thời điểm đó cũng là cơ sở quan trọng sau này để Việt Nam củng cố các mối quan hệ với các nước Đồng minh chống lại Chủ nghĩa phát xít, cũng như sự tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước Đồng minh đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nước ta giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Đó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố hùng hồn trước toàn thế giới : “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. 7
Với ý nghĩa lớn lao đó, sự kiện Bác Hồ về nước vào mùa Xuân năm 1941 là một mùa Xuân đặc biệt trong cuộc đời 79 mùa Xuân của Người, vì đó là mùa Xuân đầu tiên Bác về Tổ quốc, kết thúc một hành trình dài sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước để rồi từ đó, Người đã trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa Xuân cho dân tộc.
Từ bến cảng Nhà Rồng (1911) đến hang Pác Bó (1941), rồi tới Quảng trường Ba Đình (1945) là một hành trình lịch sử đặc biệt, kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng lớn lao của một con người vĩ đại: Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là hành trình không gian, thời gian kéo dài hơn 3 thập kỷ mà còn là hành trình hiện thực hóa “một ham muốn tột bậc”- ham muốn độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi con người Việt Nam.
Ngày 5.6.1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Không mang theo một học thuyết sẵn có, không có hậu thuẫn quyền lực, Người chỉ có lòng yêu nước cháy bỏng và niềm tin mãnh liệt rằng, dân tộc Việt Nam phải được giải phóng. Cuộc ra đi ấy mở đầu cho hành trình bôn ba qua nhiều châu lục, đại dương, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, văn minh, chứng kiến tận mắt nỗi khổ của những người cùng khổ, của các dân tộc bị áp bức, từ đó từng bước tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về Pác Bó (Cao Bằng). Lán Khuổi Nậm, hang Pắc Bó, núi Các Mác, suối Lê Nin đã trở thành biểu tượng của một giai đoạn lịch sử gian khổ mà hào hùng- nơi Người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước, xây dựng lực lượng và căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Từ núi rừng biên cương ấy, con đường giải phóng dân tộc được hoạch định rõ ràng, đưa cách mạng tiến tới thắng lợi.
Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, lãnh tụ Hồ Chí Minh thay mặt dân tộc Việt Nam đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai tử chế độ thuộc địa, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khoảnh khắc thiêng liêng ấy là sự kết tinh trọn vẹn hành trình từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh) đến Pác Bó (Cao Bằng), rồi Ba Đình (Hà Nội) - hành trình khát vọng cháy bỏng của một người yêu nước thành hiện thực của cả dân tộc.
Hành trình ấy mãi là biểu tượng bất diệt của ý chí độc lập, tinh thần tự cường và khát vọng vì con người “ham muốn tột bậc” của Hồ Chí Minh không chỉ soi sáng lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX mà còn tiếp tục là ngọn đuốc dẫn đường cho Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay mà mai sau.
Tài liệu tham khảo:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, tập 7, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.122.
[2] Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài, đăng trên báo Cứu quốc ngày 20.1.1946. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.161-162.
[3] Khẳng định của Nguyễn Ái Quốc sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê Nin. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.30.
[4] Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H.1977, tr.38.
[5] Bác Hồ sống mãi với chúng ta. Nxb Chính trị Quốc gia, H.2005, t1, tr.485.
[6] Bác Hồ sống mãi với chúng ta. Nxb Chính trị Quốc gia, H.2005,tr.1, tr.516)
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t4, tr3.
Đọc nhiều
Tin mới hơn
Từ “nhịp thở” của Quốc hội và đời sống
Đại hội XIV của Đảng: Tư duy mới, tầm nhìn mới và bản lĩnh hành động
Văn hóa: "Năng lượng gốc" định hình vị thế quốc gia
Tin tức khác
“Tấm vé” thông hành đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình
Công tác chính trị, tư tưởng: Vai trò chủ công và sứ mệnh "mở đường"
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Trung tâm khơi dậy nguồn lực và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Khi quyết sách là sự kết tinh của “Ý Đảng, lòng dân”
Xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, quyết liệt hành động vì Nhân dân


