Khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Diễn đàn đại đoàn kết

Khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

NGÔ HIỂN (thực hiện)
Sau 5 năm triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đất nước đã đi qua nhiều thời điểm thử thách, đồng thời tích lũy thêm những bài học thực tiễn quý báu cho chặng đường phát triển tiếp theo. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang chào mừng Đại hội XIV và đất nước bước sang kỷ nguyên mới, trước thực tiễn đặt ra cần tổng kết chặng đường 40 năm đã qua với dấu ấn chuyển đổi mạnh mẽ trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận mới và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc càng trở nên cấp thiết.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực nội sinh to lớn bảo đảm cho sự bền vững của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phóng viên đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Ngọc Long, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, để làm rõ những chuyển động tư duy từ thực tiễn Đại hội XIII đến định hướng xây dựng Văn kiện Đại hội XIV.

Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội

- Nhiệm kỳ khóa XIII diễn ra trong một giai đoạn đầy biến động, nhưng cũng đặt nền móng quan trọng cho việc hình thành tư duy phát triển mới của Đảng. Nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua, theo ông, thành tựu nào có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhất, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới ở nước ta?

GS, TS. Nguyễn Ngọc Long: Nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, có thể thấy rõ năng lực lãnh đạo và điều hành của Đảng trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động. Trên thế giới với sự bất ổn chính trị khu vực Trung cận đông, chiến tranh Nga Ucraina, suy thoái bất ổn kinh tế... đang diễn ra nhanh, phức tạp và khó lường.

Trong nước phải đối mặt với hàng loạt khó khăn nghiêm trọng như đại dịch COVID-19, thiên tai, bão lũ như bão Yagi (năm 2024), trận lũ ở miền Trung cuối tháng 10 đến tháng 11.2025 kéo dài gây thiệt hại nặng nề về người và của. Dù vậy, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, Việt Nam vẫn giữ vững ổn định chính trị - xã hội, từng bước phục hồi và duy trì tăng trưởng kinh tế. Đây là một thành quả rất đáng ghi nhận, không dễ đạt được trong điều kiện nhiều rủi ro và bất định như vừa qua. Thành quả đó có thể nhìn nhận rõ trên ba phương diện lớn.

Thứ nhất, về đối ngoại, Việt Nam đã triển khai nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, với phương châm “ngoại giao cây tre” mềm dẻo nhưng kiên định. Chính sách này đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế. Nhiều nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao các nước và các tổ chức quốc tế liên tục thăm, làm việc tại Việt Nam cho thấy sự kế thừa và phát triển sáng tạo các chủ trương đối ngoại từ các nhiệm kỳ Đại hội trước. Đồng thời, Việt Nam cũng giữ vững thế chủ động trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên các vùng biên giới, biển đảo, xử lý hài hòa quan hệ đối ngoại gắn với bảo đảm lợi ích chiến lược lâu dài của đất nước.

Thứ hai, về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiệm kỳ XIII đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ cả về quyết tâm chính trị lẫn hiệu quả thực tiễn. Tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ" của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và kế tục là Tổng Bí thư Tô Lâm được thực thi nhất quán, tạo sức răn đe rõ rệt và góp phần làm trong sạch bộ máy. So với các nhiệm kỳ trước, công tác này được đẩy lên một tầm cao mới, qua đó củng cố kỷ cương, kỷ luật của Đảng và Nhà nước, đồng thời từng bước lấy lại và tăng cường niềm tin của nhân dân.

Thứ ba, về kinh tế, sau 40 năm đổi mới, đặc biệt trong nhiệm kỳ XIII, tư duy phát triển tiếp tục được hoàn thiện, trong đó kinh tế tư nhân được khẳng định ngày càng rõ vai trò động lực. Trước đây, Đại hội VII (năm 1991) khi nói vấn đề quá độ lên CNXH nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì trong nghiên cứu khoa học tôi có bài Góp phần tìm hiểu thực chất con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (đăng Tạp chí Nghiên cứu lý luận, tháng 4.1992), có xác định: “việc phát triển tư bản được thực hiện trong điều kiện mới với tính cách là khâu trung gian để quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Đến năm 2017, Trung ương Đảng có Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 3.6.2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN đã từng bước khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân.

Nghị quyết số 68-NQ/TW (năm 2025), Đảng đã xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng xanh, bền vững, đồng thời góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Có thể khẳng định, nhiệm kỳ Đại hội XIII đã nắm bắt đúng xu thế vận động của đất nước và thời đại, kế thừa và phát huy hiệu quả những thành quả của các nhiệm kỳ trước, tạo dựng nền tảng và xung lực quan trọng để Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn vươn mình mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.

- Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ thể hiện nhiều điểm mới trong tư duy phát triển, phù hợp với yêu cầu đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh và bền vững. Từ thực tiễn nhiệm kỳ XIII, theo ông, những đổi mới nào về tư duy, phương thức lãnh đạo cần được tiếp tục khẳng định và phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV, nhằm tạo đột phá so với các nhiệm kỳ trước?

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”. Nhận định này không chỉ phản ánh tư duy đổi mới mạnh mẽ của người đứng đầu Đảng, mà còn cho thấy sự thay đổi trong nhận thức lý luận về những rào cản mang tính căn bản của quá trình phát triển.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị quốc gia (Hà Nội), với sự tham dự của 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị quốc gia (Hà Nội), với sự tham dự của 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Cách đây hơn 30 năm, trong bài viết Mâu thuẫn giữa cơ sở kinh tế và thể chế chính trị - cái mắt xích chủ yếu của quá trình đổi mới xã hội hiện nay ở nước ta (đăng Tạp chí Cộng sản, tháng 3.1989), tôi cũng đã đề cập đến vấn đề thể chế như một mấu chốt quyết định, “Giải quyết mâu thuẫn giữa cơ sở kinh tế và thể chế chính trị trở thành cái mắt xích chủ yếu của toàn bộ dây chuyển đổi mới xã hội", và đến nay thực tiễn đã chứng minh nhận định đó là hoàn toàn phù hợp.

Có thể khẳng định, thể chế chính là vấn đề cốt lõi nhất mà các nhà lãnh đạo đã sớm nhận diện và kiên trì tìm cách tháo gỡ. Thực tiễn đổi mới cho thấy, việc “sắp xếp lại giang sơn" không chỉ là câu chuyện lý thuyết hay những tuyên ngôn mang tính định hướng, mà là quá trình cải cách cụ thể, tác động trực tiếp đến bộ máy, con người và hiệu quả quản trị quốc gia.

Trong triết học, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Việc triển khai mô hình tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, trong đó mô hình chính quyền hai cấp đã giúp giảm hơn 100.000 cán bộ, là minh chứng sinh động cho tỉnh thần cải cách đó. Tuy nhiên, cải cách thể chế và tổ chức bộ máy không thể nóng vội. Những bước đi cần vững chắc, có lộ trình, bởi sự vội vã có thể dẫn đến những hạn chế, hệ lụy không đáng có, làm suy giảm hiệu quả cải cách.

Từ rất sớm, V.I. Lênin đã cảnh báo về nguy cơ quan liêu hóa bộ máy nhà nước. Trở lại với thực tiễn của chúng ta, vẫn để cán bộ, xây dựng Đảng và chỉnh đốn bộ máy luôn là nội dung xuyên suốt trong các nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII và XIII. Những nghị quyết này đều tập trung vào việc xác định “mắt xích chủ yếu", "khâu then chốt” trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tổ chức lại bộ máy, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN như một nhiệm vụ lâu dài, cần được kiên trì thực hiện qua các kỳ đại hội tiếp theo. Muốn vậy, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận khái niệm về nhà nước pháp quyền XHCN và vấn đề Đảng cộng sản cẩm quyền.

Một điểm rất đáng chú ý nữa trong tư duy của Tổng Bí thư Tô Lâm là cách nhìn nhận rõ ràng, nhất quán hơn về định hướng XHCN. Bài học “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” tiếp tục được khẳng định là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Ngày nay, tầm nhìn đó được nâng lên một bước mới, với mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH. Điều này cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy: không còn là “định hướng” mà là “giữ vững định hướng để hiện thực hóa" con đường XHCN.

Trên nền tảng đó, các lĩnh vực thiết yếu gắn trực tiếp với đời sống Nhân dân như giáo dục và y tế tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm sâu sắc. Giáo dục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, với những chính sách mang tính nhân văn và đột phá như miễn học phí, hỗ trợ tiền ăn cho học sinh. Trong lĩnh vực y tế, mục tiêu hướng tới 100% người dân có bảo hiểm y tế, phát triển mạnh hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt là y tế cấp xã để gần dân hơn, cùng lộ trình tiến tới miễn phí khám bệnh cho người dân vào năm 2030, cho thấy sự thay đổi rõ rệt về tư duy phát triển. Đồng thời, việc kiên quyết uốn nắn, xử lý những sai phạm, lệch lạc trong giáo dục và y tế cũng khẳng định quyết tâm làm trong sạch hai lĩnh vực cốt lõi của bộ máy Nhà nước.

Song song với đó, việc đẩy mạnh khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trên phạm vi cả nước được coi là một động lực phát triển mới, thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy quản trị và phát triển. Tất cả những nội dung trên cho thấy một quá trình đổi mới toàn diện, có chiều sâu, trong đó thể chế, con người và định hướng phát triển được đặt trong mối quan hệ biện chứng, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

- Một trong những nội dung xuyên suốt được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, Văn kiện Đại hội XIV cần tiếp cận và luận giải tinh thần đại đoàn kết dân tộc như thế nào để không chỉ là giá trị truyền thống, mà thực sự trở thành động lực nội sinh quan trọng nhất cho phát triển đất nước đến năm 2045?

Đoàn kết dân tộc luôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta từ khi ra đời đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định sức mạnh của tinh thần đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Câu nói giản dị nhưng hàm chứa một chân lý sâu sắc: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ việc quy tụ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong một khối thống nhất về mục tiêu và ý chí hành động.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV.

Trong Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhấn mạnh vai trò sống còn của đoàn kết, trước hết là đoàn kết trong Đảng. Người khẳng định, nhờ có sự đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ Nhân dân và Tổ quốc, Đảng ta đã tổ chức, lãnh đạo Nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết, theo Người, không chỉ là một phương châm hành động mà còn là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc, cần được giữ gìn, bảo vệ như “giữ gìn con ngươi của mắt mình". Lời dặn đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen.

Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, có thể khẳng định đoàn kết toàn dân tộc chính là nhân tố quyết định đưa đất nước vượt qua chiến tranh, đói nghèo, bao vây cấm vận, để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Mọi thành quả hôm nay đều gắn liền với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, kết hợp hài hòa lợi ích của giai cấp, dân tộc và từng cộng đồng xã hội.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, vấn để đoàn kết đang đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải có định hướng tư tưởng rõ ràng, kịp thời và chủ động. Một số quan điểm, cách tiếp cận lệch lạc tìm cách phủ nhận hoặc làm lu mờ vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, dưới nhiều hình thức tinh vi, dễ gây hoang mang, chia rẽ trong xã hội. Những tranh luận xã hội gần đây xoay quanh việc vinh danh một số tác phẩm văn học, trong đó có tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh", cho thấy nếu không được định hướng đúng đắn, rất dễ bị lợi dụng để xuyên tạc lịch sử, gây tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vì vậy, cùng với việc khẳng định và phát huy giá trị của đoàn kết, Đảng và Nhà nước cần sâu sát hơn trong chỉ đạo thực tiễn, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nhân danh tự do học thuật, tự do sáng tạo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chỉ khi giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mới tiếp tục được phát huy, trở thành động lực to lớn cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

- Đất nước đang bước vào giai đoạn chuyển đối mạnh mẽ về mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức, đồng thời phải thích ứng với những biến động nhanh của thế giới. Theo ông, điểm mới căn bản mà Văn kiện Đại hội XIV cần thể hiện trong nhận thức lý luận của Đảng là gì để bảo đảm lý luận thực sự đi trước, soi đường cho thực tiễn?

Đất nước đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với nhiều biến động mạnh mẽ cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức không còn là những lựa chọn mang tính thửnghiệm, mà là yêu cầu tất yếu để bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh đó, điểm mới căn bản mà Văn kiện Đại hội XIV cần thể hiện trước hết là sự đổi mới mạnh mẽ về nhận thức lý luận, bảo đảm lý luận của Đảng thực sự đi trước một bước, dẫn dắt và soi đường cho thực tiễn.

GS. Nguyễn Ngọc Long.
GS. Nguyễn Ngọc Long.

Theo tôi, điểm mới cốt lõi nằm ở việc chuyển từ tư duy phát triển chủ yếu dựa vào tăng trưởng kinh tế sang tư duy phát triển tổng hợp, hài hòa và bền vững, lấy con người, tri thức, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm trung tâm. Các vấn để lý luận phát triển cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, làm rõ hơn mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa; giữa chuyển đổi số với bảo đảm chủ quyền số, an ninh quốc gia và giá trị nhân văn. Từ đó, những tư duy lý luận về mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới sẽ không ngừng được bổ sung phát triển cho phù hợp tình hình, thời điểm.

Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIV cần thể hiện rõ nhận thức lý luận mới về vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội trong nền kinh tế hiện đại. Nhà nước không chỉ là chủ thể quản lý, mà còn là kiến tạo phát triển; thị trường là công cụ phân bổ nguồn lực hiệu quả; xã hội và đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực sáng tạo đặc biệt quan trọng.

Cuối cùng, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, điểm mới căn bản của Văn kiện Đại hội XIV cần là tư duy lý luận mang tính mở, linh hoạt nhưng kiên định nguyên tắc, biết kế thừa giá trị nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại. Chỉ khi lý luận thực sự được đổi mới, có tầm nhìn dài hạn và gắn chặt với thực tiễn Việt Nam, thì lý luận mới có thể đi trước, soi đường và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

- Trong khí thế cả nước hướng về Đại hội XIV, với niềm tin và khát vọng phát triển mạnh mẽ, ông muốn gửi gắm thông điệp lý luận và thực tiễn cốt lõi nào về tinh thần đổi mới, tự cường và đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin và khơi dậy ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam trong hành trình đến năm 2045?

Với tâm thế cả nước chuẩn bị mừng Đảng, mừng Xuân, mừng Đất nước bước sang “kỷ nguyên mới”, xuất phát từ những thành tựu và tiển để mà đất nước đã tích lũy được sau gần bốn thập niên đổi mới.

Khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
“Đoàn kết, đoàn kết, Đại đoàn kết – Thành công, thành công, Đại thành công" đã trở thành chân lý, thành lẽ sống của chúng ta. Ảnh minh họa: Nhật Bắc.

Với quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng, vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao, cùng khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn xã hội, mục tiêu hướng tới tăng trưởng liên tục hai con số trong các năm tới. Nếu duy trì được nhịp độ tăng trưởng đó một cách bền vững, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt tới trình độ phát triển cao hơn, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhìn nhận đây không chỉ là bài toán của những con số tăng trưởng, mà là vấn đề của chất lượng phát triển, của mô hình tăng trưởng và của năng lực thích ứng trước những biến động khó lường của thế giới.

Chính vì vậy, cùng với niềm tin và khát vọng, yêu cầu đặt ra là không được sa vào chủ quan duy ý chí. Lịch sử phát triển cho thấy, mọi sự nóng vội, tuyệt đối hóa mục tiêu mà coi nhẹ điều kiện thực tiễn đều có thể dẫn tới những hệ quả không mong muốn. Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều rủi ro, cạnh tranh chiến lược gay gắt, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và chuyển đổi công nghệ diễn ra nhanh chóng, sự tỉnh táo về tư duy và phương pháp càng trở nên cần thiết.

Tăng trưởng cao chỉ có ý nghĩa khi được xây dựng trên nền tảng thể chế phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ phát triển và sự đồng thuận xã hội vững chắc.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu liên tục đổi mới, bổ sung và phát triển lý luận trở thành nhiệm vụ mang tính sống còn. Đổi mới không phải là một chặng đường đã khép lại, càng không phải là trạng thái “đã xong”, mà là một quá trình thường xuyên, liên tục và mở. Mỗi giai đoạn phát triển mới đều đặt ra những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới đòi hỏi phải được nhận diện và lý giải kịp thời bằng tư duy lý luận phù hợp. Nếu dừng lại ở những cách tiếp cận cũ, không chịu tổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc, thì lý luận sẽ tụt hậu so với đời sống, không còn đủ sức dẫn dắt và định hướng cho hành động.

Bởi vậy, những bước đi trong kỷ nguyên mới cần được thực hiện một cách vững chắc, có lộ trình rõ ràng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa điều chỉnh chính sách trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Phát triển không phải là chuỗi những cú bứt phá ngẫu hứng, mà là quá trình tích lũy bền bỉ, kết hợp hài hòa giữa tẩm nhìn dài hạn và giải pháp cụ thể, khả thi trong từng giai đoạn. Chỉ khi liên tục nhìn lại mình, kịp thời đánh giá đúng những gì đã đạt được và chưa đạt được, đồng thời chủ động đặt ra những mục tiêu mới phù hợp với điều kiện mới, đất nước mới có thể tận dụng được thời cơ, vượt qua thách thức và vững vàng tiến bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

[Ảnh] Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV [Ảnh] Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí ...

Đại hội XIV của Đảng: Mốc son lịch sử khởi đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Đại hội XIV của Đảng: Mốc son lịch sử khởi đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

"Nhiệm kỳ Đại hội XIV là thời điểm để chúng ta khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển; biến ý chí thành hành động, ...

Đại hội XIV của Đảng: Tư duy mới, tầm nhìn mới và bản lĩnh hành động Đại hội XIV của Đảng: Tư duy mới, tầm nhìn mới và bản lĩnh hành động

“Mục tiêu của Đảng không có gì khác ngoài việc nâng cao đời sống cho nhân dân. Và để làm được điều đó, chúng ta ...

Tin tức khác

Mặt trận là chủ thể trách nhiệm pháp lý trong bầu cử

Mặt trận là chủ thể trách nhiệm pháp lý trong bầu cử

Trải qua 80 năm hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam, mỗi kỳ bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân (HĐND) các cấp không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước mà còn là dịp thể hiện sinh động bản chất dân chủ của Nhà nước ta, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Chủ tịch Lê Quang Đạo và dấu ấn trong phát triển công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Chủ tịch Lê Quang Đạo và dấu ấn trong phát triển công tác lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trong lịch sử hơn chín thập niên hình thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam – nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiệm kỳ của Chủ tịch Lê Quang Đạo (1994 - 1999) được xem là một trong những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng về phương diện đổi mới tư duy lý luận và định hướng phát triển lâu dài.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác bầu cử

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác bầu cử

Trong bối cảnh đất nước đang khẩn trương triển khai chủ trương sắp xếp lại bộ máy, tinh gọn tổ chức, tinh giản biên chế, trong đó, quyền lợi an sinh xã hội (ASXH) của viên chức, người lao động dôi dư chịu nhiều tác động trực tiếp, đặt ra nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến việc đảm bảo quyền an sinh xã hội của viên chức, người lao động. Trước thực trạng đó, xây dựng một hệ thống ASXH toàn diện, kết hợp hài hòa giữa hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường và cơ chế thực thi minh bạch là cần thiết, thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước.
Từ “nhịp thở” của Quốc hội và đời sống

Từ “nhịp thở” của Quốc hội và đời sống

Liên tiếp giành giải cao tại giải Diên Hồng (giải B mùa giải thứ 3 và giải A ở mùa giải thứ 4), Tạp chí Lao động Đoàn thể đã khẳng định được vai trò, vị thế của mình trong dòng báo chí chính luận. Các loạt bài về vấn đề lập pháp trên Tạp chí được thể hiện trong tâm thế, trách nhiệm của công dân đồng thời cũng là cử tri đang lắng nghe “nhịp thở” của Quốc hội, hơi thở của đời sống xã hội.
Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp: Đoàn kết, phát triển và hướng về Tổ quốc

Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp: Đoàn kết, phát triển và hướng về Tổ quốc

Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp với khoảng 400.000 người, là một trong những cộng đồng người Việt lâu đời và lớn mạnh nhất tại châu Âu.
Bước ngoặt tư duy chiến lược về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất

Bước ngoặt tư duy chiến lược về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất

Sự kiện lịch sử đặc biệt này không chỉ mở ra bước ngoặt trực tiếp trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mà còn đánh dấu sự phát triển rõ nét và có hệ thống của tư duy chiến lược về tổ chức và tập hợp lực lượng cách mạng, đặt nền tảng cho việc hình thành và phát huy sức mạnh của Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Xem thêm