Giảm nhanh hộ nghèo và cận nghèo
Nhà của Pả May nằm ngay trên trục đường tỉnh 586 nối Quốc lộ 9 với vùng Lìa, khu vườn rộng, đẹp như thảo nguyên trong phim, cuối vườn là hàng cây bồ kết tỏa bóng mát bên bờ khe Ka Đắp chảy ra sông Sê Pôn, nơi có đông bà con ở thôn Thanh Ô – xã Lìa đang cùng nhau thu hoạch trái bồ kết giúp Pả May.
Câu chuyện về Pả May được bà con nhắc đến như một minh chứng sống động cho tinh thần cần cù, dám nghĩ dám làm của người dân nơi phên dậu Tổ quốc. “Làm lụng rất vất vả nhưng cuộc sống vẫn cứ luôn nghèo túng. Mình nghĩ nếu vẫn cứ đeo đẳng cách làm cũ thì cuộc sống của gia đình, bản làng mình sẽ không đổi thay được” – Pả May nói.
Những năm gần đây, khi địa phương triển khai mạnh mẽ các mô hình phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới, Pả May là một trong những người đầu tiên của thôn Thanh Ô mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm. Khởi đầu từ một con bò giống do Nhà nước hỗ trợ, Pả May đã “liều” vay vốn ngân hàng để đầu tư nuôi trâu bò theo hướng bán chăn thả, vừa tận dụng được bãi chăn tự nhiên, vừa chủ động phòng bệnh và chăm sóc đàn gia súc.
Khi đàn trâu, bò đã được 5 con, Pả May trồng 1 ha mía và cây đót để làm thức ăn cho trâu bò. Từ 5 con ban đầu, Pả May kiên trì gây dựng đàn, chú trọng chọn giống, giữ vệ sinh chuồng trại và tích trữ thức ăn cho mùa mưa rét. Nhờ đó, đàn trâu bò nhà anh ngày càng phát triển, trở thành nguồn thu nhập chính, giúp gia đình anh không chỉ thoát nghèo mà vươn lên thành hộ giàu điển hình của bản làng.
– Các anh xem, trâu bò của em có béo tốt không? Làm gì cũng phải quyết tâm, và có tình cảm. Vợ chồng em thương con trâu con bò thì con trâu con bò nó thương lại, nó béo, nó đẻ dày. Vừa rồi con trai ra ở riêng, em cho 2 con bò to, giờ còn 12 con – Pả May tự hào khoe với chúng tôi.
![]() |
| Pả May: “Nuôi bò phải cỡ chục con trở lên, nuôi một vài con thì lỗ, mất vốn”. Ảnh: Lam Chi. |
Anh Hồ Văn Hạnh - Phó Chủ tịch UBND xã Lìa, tỉnh Quảng Trị nói, điều đáng quý ở Pả May là không chỉ vươn lên làm giàu cho gia đình mà còn là tinh thần sẻ chia với cộng đồng. Anh sẵn sàng hướng dẫn, truyền lại những kinh nghiệm trong cách chăn nuôi, trồng trọt hiệu quả, động viên bà con dân bản mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất.
Đến cuối tháng 12 vừa rồi, toàn xã Lìa vẫn còn 916 hộ nghèo (trên tổng số 14.358 hộ). “Nhưng, chúng tôi đã dốc toàn lực, huy động nhiều nguồn lực để tăng tốc độ xóa hộ nghèo, chỉ tính từ 1.7.2025 đến nay, số hộ nghèo của xã đã giảm thêm được 7,16% là một tín hiệu lạc quan cho công cuộc xóa nghèo ở một xã biên giới với rất nhiều khó khăn” – Chủ tịch UBND xã Lìa Trần Đình Dũng, chia sẻ.
Cũng như vậy, xã A Dơi – xã cuối cùng trên đường biên giới Việt – Lào dọc sông Sê Pôn có mức giảm tỷ lệ hộ nghèo 9,7%, nhưng vẫn còn đến 35,73% hộ nghèo và 31,87% hộ cận nghèo.
Hành trình mới về một loài cây cũ
Năm 2026, các xã thuộc vùng đất Khe Sanh – Lao Bảo (Quảng Trị) sẽ kỷ niệm 100 năm Cà phê Khe Sanh. Vùng đất mang tên Khe Sanh (giờ là các xã thuộc huyện Hướng Hóa cũ thuộc tỉnh Quảng Trị) là vùng đất đỏ bazan, một cao nguyên giàu tiềm năng và lợi thế thuộc miền Tây Quảng Trị, nơi cây cà phê mít (Liberica) đã được gieo trồng, bén rễ cách đây 100 năm. Từ đó đến nay, cà phê không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn trở thành một phần ký ức, một biểu tượng văn hóa gắn liền với con người và lịch sử nơi đây.
Cà phê Khe Sanh đã có một vị trí xứng đáng trên bản đồ cà phê thế giới và quốc gia, là một đặc sản nổi bật của Việt Nam, mang đến hương vị độc đáo bởi những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng lý tưởng cho cây cà phê phát triển. Đây là khu vực có độ cao từ 700 đến 1000 mét so với mực nước biển, có khí hậu mát mẻ quanh năm, với lượng mưa dồi dào, giúp cây cà phê sinh trưởng tốt, cho hạt cà phê chất lượng cao. Cà phê Khe Sanh nổi bật với hương vị đậm đà, thanh, thơm, được đông đảo người dùng trong nước và quốc tế ưa thích.
Tôi đem câu chuyện thời sự với rất nhiều niềm vui về thông tin, cuối năm 2025, tại xã Khe Sanh đã diễn ra hội nghị công bố và đón nhận văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý cà phê Khe Sanh do Cục Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cấp cho cà phê Khe Sanh, trong đó có địa danh xã A Dơi.
Mở đầu cuộc trò chuyện với anh Trần Trọng Kim – Chủ tịch UBND xã A Dơi. Anh nói: “Đó là một thành công, một lợi thế rất lớn cho cà phê Khe Sanh, nó mở ra nhiều khả năng, dư địa để đẩy mạnh loại cây trồng xuất khẩu có giá trị cao này. Tôi đã từng có thời gian rất dài làm việc, gắn bó với vùng đất 1000 mét cao so với mực nước biển này nên rất hiểu và thấm thía sự gian nan, thăng trầm của cây cà phê Khe Sanh. Vào công tác tại xã A Dơi chỉ mới được nửa năm, tôi đã dành nhiều thời gian tìm hiểu kỹ hơn về cây cà phê mít: Vì sao cả một thời gian dài, số phận của nó bấp bênh, “chết đi sống lại”.
![]() |
| Anh Hồ Ai Béc (bên trái): “380 cây cà phê mít này tôi mới trồng trong năm 2025. Sau Tết Bính Ngọ tôi sẽ trồng thêm 500 cây nữa”. Ảnh: Yên Mã Sơn. |
Hồ Ai Béc, dân tộc Vân Kiều, 48 tuổi, một người trồng cà phê mít nhiều nhất ở A Dơi đã dành trả lời câu hỏi của vị Chủ tịch xã: “Cách đây nhiều năm, cà phê mít bị chặt bỏ để nhường chỗ cho các giống cà phê khác. Riêng tôi vẫn để lại và tiếp tục trồng. Nhiều người, trong đó có cả cán bộ cười tôi. Nhưng tôi vẫn kiên quyết. Vì sao? Vì cây cà phê mít có nhiều lợi thế trên vùng đất A Dơi này. Trình độ canh tác, thâm canh của bà con Vân Kiều, Pa Cô cho cây cà phê chè, cà phê vối là rất khó, do nó đòi hỏi tưới nước nhiều, bón phân nhiều; trong khi cây cà phê mít sức sống mạnh mẽ, chịu khô hạn tốt, không cần phân bón hóa học, năng suất cao do quả to, cây cao, cành nhiều; và đặc biệt nhất là nó cho thu hoạch vào những tháng sau Tết âm lịch, trời khô ráo, chứ không như cà phê chè và vối phải thu hoạch trong mùa mưa, rất chi là cực, đẩy giá thành lên cao”.
Vườn 1400 cây cà phê mít đã 5 – 10 năm tuổi của Hồ Ai Béc cho thu hoạch năng suất cao và được giá từ năm ngoái. Anh bán được gần 200 triệu đồng. Năm nay, cây đang cho trái rất dày và đẹp, Béc nói “hứa hẹn ra Tết Bính Ngọ sẽ lại có thêm một mùa bội thu cà phê mít”.
Tôi chia sẻ với Hồ Ai Béc, những năm trở lại đây, cà phê mít đang dần được đồng bào miền núi và các cộng đồng trồng cà phê truyền thống trồng lại; trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, cà phê mít lộ rõ nhiều ưu điểm nổi bật như khả năng thích nghi tốt, chịu hạn, ít sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt ở những vùng đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng…
Hồ Ai Béc cười vang và ngắt câu chuyện của tôi bằng cách kéo tôi đi qua một sườn đồi khác. Béc bảo: “Nhà báo nhìn đi, 380 cây cà phê mít này tôi vừa trồng được nửa năm, không phân hóa học, không tưới nước, chỉ nhờ vào nước trời và phân chuồng. Sang năm mình còn phá tiếp rừng tràm để trồng thêm cà phê mít nữa”.
Hành trình “phục hưng” cây cà phê mít cho vùng Lìa rõ ràng rất có ý nghĩa. Bên cạnh yếu tố sinh thái, giá trị văn hóa và bản sắc địa phương cũng là động lực quan trọng. Với đồng bào thiểu số miền núi, cà phê mít không chỉ là cây trồng mà còn gắn với ký ức sản xuất, nếp sống nương rẫy và lối canh tác truyền thống.
Khi xu hướng cà phê đặc sản và cà phê bản địa được đề cao, cà phê mít bắt đầu được nhìn nhận lại dưới góc độ giá trị khác biệt, không chỉ đo bằng số lượng mà bằng câu chuyện, hương vị và tính độc đáo. “Tôi trả tiền đắt không chỉ cho cà phê trong ly mà cho cả câu chuyện về gieo trồng và thu hái hạt cà phê trước đó nữa” – thật có lý khi nghe một người sành uống cà phê nói như vậy.
Với cách mua cà phê như vậy, thì cà phê mít Khe Sanh với lịch sử 100 năm sẽ có vô vàn câu chuyện để bán.
Giấc mơ về cây cầu “bản – bản”
Hồ Văn Chung, nhà ở thôn Thanh Ô, xã Lìa kể chuyện làm giàu từ trồng sắn, nuôi bò, trồng chuối; từ năm 2013 anh đã là thành viên Câu lạc bộ 100 triệu của người trồng sắn. Anh nói rằng, có lao vào làm ăn lớn mới thấy hết những khó khăn, vướng mắc; đồng bào hai bên sông Sê Pôn biên giới làm ăn chung, hàng hóa nông sản nhiều nhưng cách trở con sông, vận chuyển không được, nhiều khi chuối, sắn cũng phải vứt bỏ, không thu hoạch. Mình chỉ nói vài ví dụ nhỏ đó thôi để kiến nghị là Nhà nước nên tập trung nguồn lực, kinh phí để tạo ra những mô hình làm ăn lớn, mới hy vọng đẩy nhanh giảm hộ nghèo ở miền núi này. Đặc biệt là phải làm cho đồng bào cây cầu bắc qua sông Sê Pôn” – Hồ Văn Chung tha thiết nói.
Tôi đem “giấc mơ lớn” của Hồ Văn Chung (cũng là của chung đồng bào Vân Kiều, Pa Cô vùng Lìa) hỏi ông Hà Sỹ Đồng – Đại biểu Quốc hội, đã từng có nhiều năm làm Trưởng Ban biên giới tỉnh Quảng Trị rằng tại sao nhiều chục năm qua vẫn chưa có được cây cầu nào bắc qua sông Sê Pôn.
Ông Đồng nói rằng, câu hỏi đã chạm sâu nỗi trăn trở, đau đáu của ông: “Dọc sông Sê Pôn, có hàng chục “bản – bản” kết nghĩa giữa đồng bào Việt Nam và Lào. Đúng là giao thông trên tuyến biên giới sông Sê Pôn đang rất trở ngại, khó khăn muôn vàn. Với tư cách đại biểu Quốc hội, tôi đã và vẫn đang rất quan tâm, tìm kiếm cơ hội để đề xuất giải quyết nguyện vọng và kiến nghị cần thiết và ý nghĩa đó của cử tri…” - ông Hà Sỹ Đồng nói.
*Bài đăng trên Tạp chí Lao động Đoàn thể Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026
Tin tức khác
GS.TSKH Đinh Dũng: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”
An sinh xã hội trong kỷ nguyên số: Khi chính sách tiến nhanh, liệu có ai bị bỏ lại phía sau?
Chặt chẽ, dân chủ trong tổ chức hội nghị cử tri
Thành phố Huế: Phát huy vai trò Mặt trận trong lựa chọn Đại biểu Quốc hội
Chính sách an sinh xã hội dịp Tết: “Phép thử” quản trị và sứ mệnh xác lập quyền con người


