1. Mở đầu
Công tác an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhằm bảo vệ quyền lợi, sức khỏe, tính mạng của người lao động trong chiến lược phát triển đất nước nhanh và bền vững. Điều đó được thể hiện rõ nét qua Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18.9.2013 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác an toàn, vệ sinh lao động trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 19.3.2024 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ATVSLĐ trong tình hình mới.
Các chủ trương của Đảng đã được Nhà nước cụ thể hóa thành các chính sách, pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư, Quy chuẩn, Tiêu chuẩn) và đi vào thực tiễn trong công tác đào tạo cán bộ ATVSLĐ và triển khai thực hiện trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, người sử dụng lao động, người lao động trong chủ động phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đẩy mạnh tuyên truyền văn hóa an toàn lao động, đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong tư tưởng và hành động của cán bộ và Nhân dân để những chủ trương đúng đắn của Đảng thực sự đi vào cuộc sống.
![]() |
| Công nhân Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây tại Phân xưởng thuốc viên. Ảnh: P. Diệp |
Bảo đảm ATVSLĐ không chỉ là yêu cầu pháp lý trong bảo vệ con người mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của bản thân doanh nghiệp cũng như đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trong đó phát triển kinh kế phải gắn với việc đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng cho người lao động. Chủ trương của Đảng nhằm đảm bảo quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động; bảo vệ tài sản của nhà nước, doanh nghiệp. Đảm bảo ATVSLĐ là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh con người và ổn định xã hội. Công tác ATVSLĐ đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, thường xuyên của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, người sử dụng lao động và người lao động.
Chỉ thị 29-CT/TW ngày 18.9.2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI đã mang lại nhiều kết quả tích cực như tỉ lệ tai nạn lao động giảm; nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, doanh nghiệp, người lao động và xã hội được nâng lên; chính sách, pháp luật về ATVSLĐ được hoàn thiện; công tác phòng ngừa, đánh giá rủi ro, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại được quan tâm; công tác chăm sóc sức khỏe người lao động (NLĐ), cải thiện điều kiện làm việc, hỗ trợ rủi ro cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) được chú trọng; hoạt động huấn luyện, kiểm định kĩ thuật an toàn lao động, quan trắc môi trường lao động được phát triển.
Chỉ thị 31-CT/TW ngày 19.3.2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII đề ra yêu cầu rà soát, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, khắc phục hạn chế, bất cập trong thực tiễn, chú trọng biện pháp phòng ngừa, ứng phó, xử lý sự cố tai nạn lao động; đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật về ATVSLĐ tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe người lao động; đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn.
Công tác ATVSLĐ đã được các cấp ủy Đảng, Công đoàn xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và đưa thành chỉ tiêu phấn đấu hàng năm để xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, thiết thực với các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp trong chương trình công tác, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của ngành, địa phương, đơn vị, có trọng tâm, trọng điểm, đi vào thực chất.
2. Chính sách của Nhà nước về công tác an toàn vệ sinh lao động
Thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18.9.2013 của Ban Bí thư trung ương Đảng khóa XI, Quốc hội đã ban hành Luật An toàn vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13) ngày 25.6.2015, có hiệu lực từ 1.7.2016 quy định các nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của NLĐ, NSDLĐ trong việc đảm bảo ATVSLĐ, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Quốc hội cũng ban hành Luật Xây dựng (Luật số 135/2025/QH15 ngày 10.12.2025) quy định trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng trong việc đảm bảo an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình. Luật Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Luật số 55/2024/QH15) được Quốc hội ban hành ngày 29.11.2024, có hiệu lực thi hành ngày 1.7.2025 quy định về phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ cho các công trình xây dựng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để đảm bảo an toàn cháy nổ cho người lao động.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15.5.2016 quy định chi tiết về huấn luyện ATVSLĐ và quản lý công tác ATVSLĐ, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15.5.2016 quy định về hoạt động kiểm định kĩ thuật ATLĐ, huấn luyện ATVSLĐ và quan trắc môi trường lao động, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26.1.2021 quy định về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và an toàn trong thi công xây dựng công trình.
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30.3.2017 hướng dẫn công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25.8.2021 của Bộ Xây dựng quy định về huấn luyện, bồi dưỡng, sát hạch nghiệp vụ kiểm định kĩ thuật an toàn lao động và chi phí đảm bảo ATVSLĐ và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kĩ thuật quốc gia (QCVN, TCVN) như QCVN 18:2021/BXD về các biện pháp đảm bảo ATVSLĐ tại các công trình xây dựng, TCVN 296: 2004/BXD về an toàn giàn giáo, QCVN 23: 2014/BLĐTBXH về hệ thống chống rơi ngã cá nhân, TCVN 8206: 2009 về hệ thống dây cứu sinh đàn hồi… là căn cứ kĩ thuật bắt buộc phải tuân thủ khi tổ chức thi công xây dựng.
Bộ Y tế ban hành Thông tư số 19/2016/TT-BYT ngày 30.6.2016 hướng dẫn quản lý vệ sinh lao động và sức khỏe người lao động. Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 48/2020/TT-BCT ngày 21.12.2020 Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển hóa chất nguy hiểm, được sửa đổi bởi Thông tư số 19/2024/TT-BCT ngày 10.10.2024.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15.5.2016 quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác ATVSLĐ đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh. Thông tư này cũng quy định việc tổ chức đánh giá nguy cơ rủi ro, tự kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác ATVSLĐ đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh; đánh giá nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ lần đầu khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh; đánh giá định kì trong quá trình hoạt động ít nhất 1 lần/năm; đánh giá bổ sung khi thay đổi về nguyên vật liệu, công nghệ, tổ chức sản xuất, khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kĩ thuật gây mất ATVSLĐ nghiêm trọng.
Việc đánh giá được thực hiện theo 3 bước: lập kế hoạch, triển khai thực hiện, tổng hợp kết quả. Người sử dụng lao động hướng dẫn người lao động nhận biết các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc, áp dụng các biện pháp phòng chống các yếu tố đó, phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố kĩ thuật và báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm để ngăn ngừa TNLĐ, BNN. Người sử dụng lao động phải tự kiểm tra ATVSLĐ toàn diện ít nhất 1 lần/năm, đối với ngành nghề có nguy cơ cao thì 2 lần/năm. 11 ngành nghề có nguy cơ cao về TNLĐ, BNN gồm: khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất dầu mỏ tinh chế; sản xuất hóa chất, cao su, plastic; sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim; thi công công trình xây dựng; đóng và sửa chữa tàu biển; sản xuất, truyền tải và phân phối điện; chế biến, bảo quản thủy sản; sản xuất sản phẩm dệt, may, da, giày; tái chế phế liệu; vệ sinh môi trường.
Người sử dụng lao động phải báo cáo Sở LĐTBXH hàng năm về công tác ATVSLĐ của cơ sở, phân tích kết quả, hạn chế, tồn tại và bài học kinh nghiệm, tổ chức khen thưởng đối với đơn vị, cá nhân làm tốt công tác ATVSLĐ, phát động phong trào thi đua đảm bảo ATVSLĐ.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 16/2017/TT-BLĐTBXH ngày 8.6.2017 quy định hoạt động kiểm định kĩ thuật ATLĐ đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ; Thông tư số 36/2019/TT-BLĐTBXH ngày 30.12.2019 về Danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ; Thông tư số 26/2017/TT-BLĐTBXH về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.
Kế hoạch số 209/NQ-CP ngày 28.10.2024 của Chính phủ xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chị thị số 31-CT/TW ngày 19.3.2024 của Ban Bí thư; xác định rõ nội dung, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác ATVSLĐ của các cấp, các ngành và toàn xã hội; nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, chủ doanh nghiệp đối với công tác ATVSLĐ. Việc tuân thủ đầy đủ các văn bản pháp luật không chỉ góp phần phòng ngừa TNLĐ, bảo vệ sức khỏe NLĐ mà còn đảm bảo tính pháp lý, chất lượng, hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh, xây dựng…
3. Đấu tranh với những tư tưởng sai trái về công tác ATVSLĐ
Công tác ATVSLĐ ở một số địa phương, đơn vị vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Người sử dụng lao động chưa nêu cao trách nhiệm, vi phạm các quy định pháp luật về ATVSLĐ, chưa thực hiện đúng quy định về khám sức khỏe định kì, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đảm bảo ATVSLĐ cho NLĐ.
![]() |
| Công ty Môi trường đô thị Sóc Sơn tổ chức Hội thi ATVSLĐ. Ảnh: ĐVCC |
Người lao động còn hạn chế về kiến thức, kĩ năng, thiếu chủ động trong phòng ngừa TNLĐ, BNN; ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy định, quy trình vận hành máy móc, thiết bị chưa nghiêm; quan tâm đến thu nhập nhiều hơn việc đảm bảo ATVSLĐ. Tình trạng mất ATLĐ ở khu vực không có quan hệ lao động, các làng nghề còn phổ biến. Số người bị TNLĐ, BNN vẫn ở mức cao, gây tổn thất lớn về người và tài sản, để lại hậu quả nặng nề, lâu dài cho người lao động, gia đình họ và xã hội.
Công tác quản lý nhà nước chưa chú trọng đúng mức công tác phòng ngừa, thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm, thường chỉ tập trung điều tra khi có sự cố nghiêm trọng, có tai nạn chết người xảy ra. Việc xử lý vi phạm chưa thường xuyên, không đủ sức răn đe. Việc ứng dụng khoa học công nghệ về ATVSLĐ chưa theo kịp thực tiễn. Công tác tuyên truyền, giáo dục và phong trào thi đua còn mang tính hình thức. Các đoàn thể, hội nghề nghiệp chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong việc giám sát, bảo vệ quyền lợi người lao động.
Trong công tác ATVSLĐ, một số nhận thức lệch lạc có thể làm gia tăng nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, như:
- Một bộ phận không nhỏ người lao động xem nhẹ công tác an toàn, cho rằng tai nạn là do không may, không thể phòng tránh, chỉ cần làm nhanh để đạt sản lượng và gia tăng thu nhập mà không nhận thức được rằng phần lớn tai nạn lao động đều có nguyên nhân từ sự chủ quan và có thể phòng ngừa nếu không làm tắt, làm ẩu, làm sai quy trình.
- Nhiều người lao động quan niệm an toàn là trách nhiệm của người sử dụng lao động, của bộ phận ATVSLĐ mà không thấy trách nhiệm của chính bản thân mình trong việc tham gia huấn luyện, diễn tập, ứng phó tình huống khẩn cấp, nhận diện mối nguy, yếu tố có hại, tuân thủ các quy trình, nội quy an toàn, sử dụng đúng cách phương tiện bảo vệ cá nhân được trang bị.
- Nhiều vụ tai nạn lao động là do chủ quan, người lao động cho rằng mình có nhiều kinh nghiệm làm việc nên không thể xảy ra sự cố. Hơn nữa, việc không sử dụng mũ cứng bảo vệ đầu, găng tay, khẩu trang, dây cứu sinh… vì thấy vướng víu chính là những nguyên nhân của tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Nhiều người bị tai nạn nhưng lại che giấu, chỉ báo cáo tai nạn nhẹ, điều đó làm mất cơ hội rút kinh nghiệm và phòng ngừa cho trường hợp tương tự. Người lao động cho rằng không cần học tập, tập huấn về an toàn, cứ làm rồi sẽ biết, trong khi môi trường lao động luôn thay đổi và cần cập nhật kiến thức về chất mới, mối nguy mới, phương tiện và quy trình làm việc mới.
- Nhiều người bỏ qua những chi tiết rủi ro nhỏ như trơn trượt, dây điện hở, lỗi thiết bị nhẹ, dây cáp mới đứt 1 sợi tao… mà không nhận ra đó là nguyên nhân của nhiều tai nạn nghiêm trọng.
- Một số doanh nghiệp cắt giảm chi phí an toàn (sửa chữa thiết bị hư hỏng nhẹ, đào tạo, huấn luyện an toàn, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân…) để tiết kiệm chi phí, đặt lợi nhuận, tiến độ lên trên an toàn, để người lao động làm việc trong điều kiện không đảm bảo. Đây là nguyên nhân hàng đầu của TNLĐ, BNN.
Những tư tưởng sai trái này cần được nhận diện và loại bỏ thông qua tuyên truyền, xây dựng văn hóa an toàn, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao ý thức của cả người lao động và doanh nghiệp.
4. Kết luận
Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đến công tác ATVSLĐ, để bảo vệ sức khỏe Nhân dân nói chung, bảo vệ lực lượng lao động vì mục tiêu ổn định xã hội và phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Nhà nước đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể, thiết thực, ban hành các Luật, Nghị định, Thông tư, Quy chuẩn, Tiêu chuẩn, tăng cường tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về ATVSLĐ. Các doanh nghiệp đã có nhận thức ngày càng cao về vai trò, ý nghĩa của ATVSLĐ đối với bản thân doanh nghiệp. Người lao động được quan tâm, được đào tạo, huấn luyện không chỉ về chuyên môn, mà còn về phương pháp, quy trình làm việc an toàn, đảm bảo sức khỏe cho bản thân, nắm được quyền và trách nhiệm của mình trong công tác ATVSLĐ. Tuy nhiên, một số tư tưởng lệch lạc vẫn tồn tại trong thực tiễn do những lợi ích ngắn hạn, trước mắt mà lơ là, xem nhẹ việc đảm bảo ATLĐ dẫn đến những hậu quả lớn về người và tài sản.
Công tác ATVSLĐ là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội, vì công cuộc xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đọc nhiều
Tin mới hơn
Đền ơn đáp nghĩa và trách nhiệm của toàn dân đối với người có công với cách mạng
Tin tức khác
Chính sách ưu đãi người có công: Thành tựu và định hướng phát triển trong giai đoạn mới
Giáo dục lý tưởng, đạo đức cho học sinh tiểu học trong kỷ nguyên số: Nền móng cho tương lai bền vững
Kinh nghiệm xây dựng khối đại đoàn kết từ một tổ dân phố
Mì chay 5K Phước Xuyên: Cách làm hay từ một cán bộ gắn bó với cơ sở
Khởi nghiệp thanh niên: Điểm nghẽn từ năng lực đến hệ sinh thái

