Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp - xu hướng và giải pháp phát triển bền vững
Chính sách và thực tiễn

Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp - xu hướng và giải pháp phát triển bền vững

KIM HỒNG HƯNG - PHÙNG LÊ KHANH
Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp (GDNN) không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu về nguồn nhân lực có tay nghề ngày càng gia tăng. Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật trực tiếp cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn lực Nhà nước dành cho GDNN còn hạn chế, trong khi yêu cầu về chất lượng đào tạo ngày càng cao. Xã hội hóa GDNN là xu hướng tất yếu nhằm huy động nguồn lực từ toàn xã hội để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế. Quá trình này góp phần giảm gánh nặng ngân sách, gắn kết đào tạo với thực tiễn doanh nghiệp và mở rộng cơ hội việc làm cho người học.

Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp - xu hướng và giải pháp phát triển bền vững
Xã hội hóa GDNN không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay. Ảnh minh họa.

2. Kết quả thực hiện chủ trương xã hội hóa trong GDNN giai đoạn 2019-2025

2.1. Về rà soát, hoàn thiện, đề xuất các cơ chế chính sách

Giai đoạn 2019 - 2025, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (trước đây là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) đã triển khai thực hiện một số cơ chế, chính sách để bảo đảm vai trò chủ đạo của Nhà nước trong phát triển sự nghiệp GDNN, tăng cường xã hội hóa (XHH), huy động các nguồn lực cho đổi mới GDNN cụ thể như sau:

- Hướng dẫn các địa phương tích cực đưa phát triển cơ sở GDNN ngoài công lập vào quy hoạch mạng lưới và chiến lược phát triển GDNN. Nhờ đó, tỷ trọng các cơ sở GDNN tư thục tăng lên, nhiều cơ sở ngoài công lập đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị hiện đại, triển khai mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp và nhu cầu thị trường.

- Xây dựng, tham mưu chính sách về trách nhiệm của doanh nghiệp trong phát triển đào tạo nhân lực. Đồng thời, tăng cường huy động vai trò và đóng góp của các ngành, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và gia đình trong công tác GDNN. Việc mở rộng các bên liên quan trong hệ sinh thái GDNN đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội và chia sẻ trách nhiệm trong đầu tư cho GDNN.

- Rà soát, điều chỉnh các điều kiện đầu tư, cắt giảm thủ tục không cần thiết, từ đó tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách, đặc biệt từ doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài. Việc đơn giản hóa thủ tục giúp giảm chi phí, thời gian cho các cơ sở GDNN, khuyến khích các mô hình đào tạo linh hoạt, hiện đại, đồng thời tăng khả năng hợp tác quốc tế và tiếp cận công nghệ, chuyên gia chất lượng cao.

- Xây dựng và ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong đào tạo, làm căn cứ xác định giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Việc chuẩn hóa chi phí giúp minh bạch, công bằng trong thanh toán và quản lý ngân sách, tạo điều kiện để các cơ sở chủ động hơn trong xây dựng chương trình và kế hoạch đào tạo.

- Rà soát các chính sách nhằm tăng cường huy động các nguồn lực của xã hội, tạo bước chuyển biến, thực chất trong thu hút, sử dụng và quản lý các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển GDNN, nâng cao chất lượng GDNN, chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và hội nhập quốc tế.

- Chú trọng xây dựng hệ thống văn bản theo hướng đẩy mạnh huy động các nguồn lực của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở giáo dục ngoài công lập, nhất là đối với các cơ sở GDNN.

Việc rà soát, ban hành và thực hiện các cơ chế nói trên là một trong những phương thức để góp phần thực hiện công bằng xã hội trong GDNN, huy động tối đa các nguồn lực và đa dạng hóa các nguồn lực trong xã hội đóng góp cho sự phát triển GDNN, chia sẻ với ngân sách nhà nước. Từ đó, mọi người dân, các tổ chức và các thành phần kinh tế - xã hội có quyền và trách nhiệm tham gia phát triển GDNN, góp phần nâng cao chất lượng GDNN, tạo cơ hội cho mọi người được đào tạo nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng để tự tạo việc làm hoặc đi làm công ăn lương góp phần ổn định xã hội, nâng cao thu nhập cho gia đình, nhất là đối với đồng bào dân tộc ít người, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo nâng cao đời sống, từng bước xóa đói, giảm nghèo bền vững.

2.2. Về kết quả thực hiện chủ trương xã hội hóa GDNN

Các địa phương đã chủ động, linh hoạt vận dụng các chủ trương, chính sách, bám sát các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và chỉ đạo của Chính phủ để thúc đẩy mạnh mẽ quá trình XHH. Từ đó, góp phần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, tăng cường sự tham gia của khu vực ngoài công lập, tạo động lực quan trọng để phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, linh hoạt, hiệu quả và gắn với nhu cầu của thị trường lao động.

Nội dung khuyến khích XHH GDNN đã trở thành nội dung cơ bản trong kế hoạch, chiến lược, quy hoạch GDNN, các văn bản chỉ đạo triển khai của Bộ, các địa phương và trong hoạt động tổ chức đào tạo của các cơ sở GDNN, từng bước thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động GDNN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

Qua đánh giá bước đầu việc khai thác, phát huy được tiềm năng và các nguồn lực của xã hội, các cơ sở GDNN XHH tiếp tục phát triển và ngày càng mở rộng, góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, lao động bị mất việc làm và các đối tượng chính sách khác, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ thực hiện các hoạt động mà khó thực hiện chính sách XHH.

2.3. Về huy động các nguồn lực

Thực hiện XHH trong GDNN đã tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển lĩnh vực, thúc đẩy quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới trong đào tạo nghề nghiệp. Một số kết quả cụ thể như:

a) Về công tác chuẩn bị và dự thi các kỳ thi kỹ năng nghề quốc gia, khu vực và quốc tế, đã thu hút được sự đồng hành, tài trợ tích cực từ nhiều doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước, góp phần nâng cao chất lượng, uy tín và gắn kết chặt chẽ giữa GDNN và nhu cầu doanh nghiệp. Cụ thể, giai đoạn 2019-2024, nhiều doanh nghiệp như Denso, Samsung, Daikin, May 10; tổ chức quốc tế như GIZ; nhiều trường đại học và cao đẳng đã tài trợ toàn bộ chi phí huấn luyện, tham dự kỳ thi các nghề CNC, cơ điện tử, công nghệ nước, thiết kế kỹ thuật, công nghệ thông tin, robot, công nghiệp 4.0, thời trang, chăm sóc sức khỏe… Nhờ đó, đoàn thi tay nghề củaViệt Nam đạt được nhiều huy chương và chứng chỉ kỹ năng nghề xuất sắc tại các kỳ thi kỹ năng nghề thế giới, ASEAN, góp phần phát triển kỹ năng lực lượng lao động theo chuẩn quốc tế và thúc đẩy xã hội hóa GDNN.

b) Về việc triển khai các chương trình, dự án sử dụng vốn vay và viện trợ nước ngoài, giai đoạn 2019-2025, Cục triển khai Dự án “Chương trình Kỹ năng và Kiến thức cho tăng trưởng kinh tế toàn diện” sử dụng vốn vay và vốn viện trợ của Ngân hàng phát triển châu Á (Dự án ADB) và chuẩn bị Dự án “Chương trình giáo dục nghề nghiệp Việt Nam - EU” (Dự án VETVET). Trong đó, theo Hiệp định vay, Dự án ADB được triển khai từ năm 2020 - 2024 với tổng mức đầu tư 94.391.339 USD; trong đó vốn vay ODA: 75.000.000 USD, vốn viện trợ không hoàn lại: 3.000.000 USD, vốn đối ứng: 16.391.339 USD để đầu tư cho 16 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Hiện nay đang làm thủ tục gia hạn để hoàn thành các mục tiêu của Dự án.

Dự án VETVET sử dụng vốn viện trợ không hoàn lại của Liên minh châu Âu, Chính phủ Đức và Chính phủ Pháp nhằm nâng cao năng lực cho khoảng 30 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong phạm vi cả nước. Dự án do nhà tài trợ trực tiếp quản lý, chi tiêu. Mục tiêu của Dự án nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động giúp tạo việc làm bền vững và khởi nghiệp theo hướng giảm thiểu biến đổi khí hậu, phù hợp xu thế chuyển đổi xanh và chuyển đổi số ở Việt Nam. Hiện đang xây dựng Văn kiện dự án. Dự kiến trong năm 2026 sẽ bắt đầu thực hiện các hoạt động của dự án theo kế hoạch.

Việc huy động hiệu quả các nguồn lực quốc tế đã và đang góp phần quan trọng trong việc hiện đại hóa GDNN, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận các chuẩn mực đào tạo nghề tiên tiến của khu vực và thế giới.

2.4. Về xây dựng cơ chế, chính sách

Để gắn kết GDNN với doanh nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp tham gia GDNN; xây dựng chính sách về trách nhiệm của các doanh nghiệp trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực GDNN; rà soát các điều kiện đầu tư và thủ tục hành chính trong GDNN.

Giai đoạn 2019-2025, Cục GDNN và Giáo dục thường xuyên đã xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành, các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN, các chính sách về trách nhiệm của doanh nghiệp trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực GDNN, rà soát các điều kiện đầu tư và thủ tục hành chính trong lĩnh vực GDNN như:

- Tổ chức nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định, gửi lấy ý kiến của các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp là các đối tượng trực tiếp chịu tác động của Nghị định và các cơ sở GDNN, đăng tải dự thảo hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị định nêu trên tại Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định. Ngày 31.12.2019, Cục đã trình Bộ LĐTBXH đã có văn bản gửi Bộ Tài chính về việc thẩm định đề nghị xây dựng Nghị định quy định chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN. Căn cứ văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp (Báo cáo số 11/BC-BTP ngày 22.1.2020 của Bộ Tư pháp), ngày 13.8.2020, Bộ LĐTBXH đã có Công văn số 3025/LĐTBXH-TCGDNN gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc dừng nhiệm vụ xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động GDNN.

- Xây dựng và thực thi cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, nhà doanh nghiệp, xây dựng các mô hình gắn kết GDNN với doanh nghiệp, đẩy mạnh hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp…(giải pháp gắn kết chặt chẽ GDNN với doanh nghiệp và thị trường lao động tại Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30.12.2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến 2045).

- Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực GDNN với quan điểm xây dựng “Bảo đảm tính công bằng, bình đẳng giữa các loại hình cơ sở GDNN công lập, tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài khi tham gia hoạt động GDNN”. Đồng thời, để bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các loại hình cơ sở GDNN công lập, tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài và thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật GDNN đã sửa đổi, bổ sung quy định điều kiện về địa điểm xây dựng cơ sở vật chất và điều kiện về vốn đầu tư thành lập phân hiệu của trường trung cấp, trường cao đẳng công lập, tư thục. Ngoài ra, có một số quy định khác nhằm khuyến khích phát triển các cơ sở GDNN xã hội hóa như: Từ 1.1.2024, nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì cơ sở GDNN tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài được tự chủ mở ngành, nghề đào tạo và được liên kết đào tạo với nước ngoài; đơn giản hóa điều kiện về địa điểm xây dựng cơ sở vật chất và vốn đầu tư thành lập phân hiệu của trường trung cấp, trường cao đẳng công lập, tư thục; đơn giản hóa quy định về địa điểm đặt phân hiệu của trường trung cấp, trường cao đẳng công lập, tư thục (Nghị định số 24/2022/NĐ-CP ngày 6.4.2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực GDNN).

- Quy định cụ thể về liên kết đào tạo đối với hình thức hợp tác giữa các cơ sở GDNN trong nước với nhau hoặc giữa cơ sở GDNN trong nước với các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cá nhân có nhu cầu liên kết đào tạo (Thông tư số 05/2022/TT-BLĐTBXH ngày 5.4.2022 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong GDNN).

- Tại Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Bộ LĐTBXH chủ trì xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đưa ra quan điểm: “đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển GDNN”, đồng thời tiếp tục khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng cơ chế, chính sách gắn kết GDNN với doanh nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp tham gia GDNN tại các giải pháp: rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước thành lập cơ sở GDNN và tham gia hoạt động GDNN; hỗ trợ đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại doanh nghiệp; tăng cường các hoạt động hợp tác giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp một cách thực chất thông qua các hoạt động liên kết cụ thể. Xây dựng, triển khai các mô hình đào tạo theo chuỗi, gắn kết với các trung tâm khởi nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo, gắn với các doanh nghiệp, hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và hướng tới đổi mới sáng tạo… (Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 10.2.2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045)

- Đề xuất chính sách thu hút nguồn lực đối với GDNN: “Đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác công - tư nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực cho phát triển GDNN, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực, địa bàn mà khu vực ngoài công lập có thể tham gia” (Chỉ thị số 21-CT/TW Ngày 4.5.2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng GDNN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045).

Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp - xu hướng và giải pháp phát triển bền vững
Thực hiện XHH trong GDNN đã tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển lĩnh vực, thúc đẩy quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới trong đào tạo nghề nghiệp. Ảnh minh họa.

3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Chính sách XHH chưa đủ mạnh mẽ để thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển GDNN.

- Một số địa phương chưa ban hành quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục, dạy nghề; chưa xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để đầu tư xây dựng phát triển các cơ sở thực hiện XHH; chưa ban hành danh mục, mức ưu đãi theo lĩnh vực, địa bàn đối với dự án XHH; chưa ban hành các chế độ ưu đãi cụ thể đối với cơ sở XHH; cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực XHH giáo dục nghề nghiệp chủ yếu tập trung vào chính sách ưu đãi về đất đai, chưa xây dựng chính sách ưu đãi về thuế; không có danh mục các dự án XHH hoặc chưa công bố rộng rãi trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia danh mục các dự án kêu gọi XHH.

- Việc huy động nguồn lực đầu tư cho GDNN từ các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Việc xúc tiến các dự án sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ cho GDNN gặp bất cập do việc thực hiện các quy định về điều kiện được vay lại, về tài sản đảm bảo theo quy định hiện hành.

- Doanh nghiệp chưa cung cấp nhu cầu nhân lực lao động hàng năm cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động và GDNN (số lượng, trình độ đào tạo, ngành nghề, kỹ năng nghề…) theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật GDNN, nên trên thực tế các cơ sở GDNN ở nhiều nơi chưa đào tạo theo sát với nhu cầu của doanh nghiệp; doanh nghiệp còn thiếu thông tin về cơ chế, chính sách và lợi ích khi tham gia đào tạo nghề nghiệp. Các mô hình Hội đồng Kỹ năng nghề chưa được chính thức hóa, chưa có quy định rõ ràng nên chưa phát huy hiệu quả việc gắn kết doanh nghiệp tham gia vào phát triển Kỹ năng nghề cho người lao động.

- Một số địa phương chưa tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở GDNN thuộc quyền tăng cường gắn kết với doanh nghiệp; công tác báo cáo, thống kê theo quy định chưa được thực hiện nghiêm túc. Nhiều cơ sở GDNN chưa thiết lập được bộ phận chuyên quan hệ với doanh nghiệp để tạo sự chủ động trong mối quan hệ cung cầu lao động qua đào tạo nghề nghiệp.

- Một trong những chính sách nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư cho GDNN và phát triển các cơ sở GDNN ngoài công lập là việc quy hoạch, bố trí đất được giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ sở GDNN. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều địa phương chưa bố trí ngân sách để thực hiện việc giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng để giao đất hoặc cho thuê đất đối với các cơ sở GDNN xã hội hóa. Một số địa phương cho thuê đất đầu tư dự án khi chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng; giao đất, cho thuê đất đối với các cơ sở giáo dục, dạy nghề khi chưa lập quy hoạch quỹ đất dành cho hoạt động XHH, không phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại địa phương; vị trí thực hiện dự án không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; xác định giá đất thuê trả tiền hàng năm để thực hiện dự án có rủi ro chưa phù hợp quy định pháp luật; miễn, giảm tiền thuê đất cho các dự án XHH không thuộc quy hoạch; sử dụng đất để đầu tư xây dựng cơ sở XHH chưa đúng mục đích sử dụng.

- Các cơ quan chức năng của địa phương: Chưa kiểm tra, đôn đốc chủ đầu tư tiếp tục thực hiện dự án hoặc tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư đối với những dự án XHH quá thời hạn thực hiện; chưa chủ trì thực hiện kiểm tra, thực hiện kiểm tra chưa đầy đủ việc đáp ứng các tiêu chí về quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở XHH.

- Doanh nghiệp không thực hiện dự án, chậm thực hiện dự án; thực hiện đầu tư dự án không phù hợp với chủ trương đầu tư; triển khai xây dựng khi chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư.

4. Một số giải pháp đẩy mạnh XHH trong thời gian tới

Để chính sách XHH đi vào cuộc sống, cần thực các giải pháp một cách đồng bộ từ trung ương tới địa phương và cơ sở. Kịp thời xử lý những khó khăn, tồn tại, bất cập trong thực hiện chính sách XHH GDNN nói riêng và chính sách XHH giáo dục nói chung. Theo đó, cần tập trung một số giải pháp sau:

Một là, cần hoàn thiện hệ thống thể chế quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước trong quá trình XHH GDNN. Rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung các chính sách (chính sách ưu đãi về thuế, chính sách tín dụng - mở các quỹ tín dụng ưu đãi đầu tư…). Xử lý triệt để những khó khăn, tồn tại, bất cập trong thực hiện chính sách XHH GDNN nói riêng và XHH giáo dục nói chung.

Hai là, mở rộng hợp tác quốc tế và kêu gọi nguồn lực đầu tư cho GDNN, đồng thời, giám sát, quản lý chặt chẽ nguồn lực để bảo đảm đầu tư có hiệu quả, đúng mục đích cho phát triển GDNN.

Ba là, tăng cường các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, với sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các cấp, các ngành chức năng, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đoàn thể, quần chúng trong xây dựng và phát triển GDNN.

Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc trong quá trình thực hiện. Trong đó, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với các cơ quan, đoàn thể trong công tác XHH GDNN.

Năm là, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư: Tăng cường huy động các nguồn lực ngoài ngân sách từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng và quốc tế. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trực tiếp hoặc liên kết với các cơ sở GDNN thông qua thành lập trường, đặt hàng đào tạo, hỗ trợ thiết bị và chương trình giảng dạy. Mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi, học bổng, hỗ trợ học phí đối với người học, nhất là tại vùng khó khăn.

Sáu là, đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP): Xây dựng mô hình hợp tác công - tư hiệu quả trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp thiết bị, tổ chức đào tạo và đánh giá kỹ năng nghề. Ưu tiên áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra đối với các ngành nghề trọng điểm, nhóm đối tượng đặc thù và địa bàn khó khăn.

Bảy là, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước thành lập trường tư thục ở tất cả các ngành học, bậc học và trình độ đào tạo; cho phép các cơ sở giáo dục tư thục thuê giáo viên người nước ngoài giảng dạy một số chương trình quốc tế.

Tám là, khuyến khích mở rộng mô hình trường dạy nghề trong doanh nghiệp hoặc cơ sở GDNN gắn với doanh nghiệp, gắn với các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế động lực.

5. Kết luận

Xã hội hóa GDNN không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay. Việc huy động sự tham gia của toàn xã hội giúp đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và nâng cao hiệu quả của hệ thống GDNN.

Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng và hoàn thiện cơ chế, chính sách; doanh nghiệp tham gia tích cực vào quá trình đào tạo và sử dụng lao động; còn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng linh hoạt và thực tiễn.

Đặc biệt, vai trò của nhà quản lý là yếu tố then chốt trong việc điều phối, kết nối các bên liên quan, đồng thời bảo đảm chất lượng và hiệu quả của quá trình XHH. Với tầm nhìn chiến lược và năng lực quản trị phù hợp, nhà quản lý sẽ góp phần kiến tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy đổi mới, phát triển GDNN theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025), Báo cáo tổng kết việc thực hiện chủ trương xã hội hóa và tình hình thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 04/6/2019 của Chính phủ về tăng cường huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo.

2. Nguyễn Đắc Hưng (2019). Hoàn thiện chính sách xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp.

3. https://gdnn.edu.vn/index.php/giao-duc-nghe-nghiep/hoan-thien-chinh-sach-xa-hoi-hoa-giao-duc-nghe-nghiep-204.html

Tin tức khác

Đền ơn đáp nghĩa: Khi lòng biết ơn được tổ chức thành hành động

Đền ơn đáp nghĩa: Khi lòng biết ơn được tổ chức thành hành động

Không chỉ là đạo lý, “đền ơn đáp nghĩa” nhiều năm nay ở Đà Nẵng đã được các tổ chức đoàn thể cụ thể hóa bằng những việc làm có tổ chức, có phân công và duy trì lâu dài. Từ công đoàn đến đoàn thanh niên, lòng biết ơn không dừng ở lời nói hay những dịp kỷ niệm, mà trở thành những hành động lặp lại, bền bỉ, góp phần giữ gìn nền tảng nhân văn trong đời sống.
Hơn 30 năm mòn mỏi đợi một câu trả lời

Hơn 30 năm mòn mỏi đợi một câu trả lời

Dù pháp luật đã quy định cụ thể về công nhận liệt sĩ, thực tế vẫn còn những hồ sơ kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết. Câu chuyện của một gia đình ở thành phố Huế là minh chứng cho những “khoảng trống” cần được tháo gỡ để sự mong mỏi chính đáng của thân nhân những người đã hy sinh vì Tổ quốc được toại nguyện.
MTTQ Việt Nam TP.HCM: Dân thụ hưởng là thước đo hiệu quả các phong trào an sinh

MTTQ Việt Nam TP.HCM: Dân thụ hưởng là thước đo hiệu quả các phong trào an sinh

Với quan điểm phát triển kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội, TP.HCM xác định "dân thụ hưởng" không chỉ là mục tiêu mà còn là thước đo chính xác nhất để đánh giá hiệu quả của mọi cuộc vận động và hoạt động chăm lo an sinh trên địa bàn.
Mặt trận Tổ quốc TP Hà Nội: Chuyển đổi số là cuộc cách mạng về tư duy phục vụ nhân dân

Mặt trận Tổ quốc TP Hà Nội: Chuyển đổi số là cuộc cách mạng về tư duy phục vụ nhân dân

Không chỉ là việc mua sắm thiết bị hay nâng cấp phần mềm, chuyển đổi số tại Mặt trận Tổ quốc TP. Hà Nội được xác định là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị nhằm xây dựng "hạ tầng của niềm tin" – nơi tiếng nói của người dân được tiếp nhận và xử lý ngay lập tức theo thời gian thực.
TS Nguyễn Viết Chức: Tri ân người có công không phải là việc làm theo… mùa vụ

TS Nguyễn Viết Chức: Tri ân người có công không phải là việc làm theo… mùa vụ

Chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” không đơn thuần là hoạt động an sinh mà còn là thước đo đạo lý và chiều sâu văn hóa của dân tộc. Trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Lao động Đoàn thể, TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh vai trò đặc biệt của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong giám sát thực thi chính sách, bảo đảm quyền lợi người có công được thực hiện minh bạch, công bằng và nhân văn; đồng thời cho rằng, muốn giữ vững “thế trận lòng dân” thì sự tri ân phải được thực hiện bằng cả trách nhiệm, tình cảm và sự tử tế của toàn xã hội.
Đền ơn đáp nghĩa và trách nhiệm của toàn dân đối với người có công với cách mạng

Đền ơn đáp nghĩa và trách nhiệm của toàn dân đối với người có công với cách mạng

Đền ơn đáp nghĩa, phát huy trách nhiệm toàn dân đối với người có công với cách mạng không chỉ là đạo lý truyền thống, mà còn là mạch nguồn nuôi dưỡng lòng yêu nước, trân trọng lịch sử. Sự chăm lo ấy lan tỏa giá trị nhân văn, góp phần giáo dục thế hệ hôm nay, kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai, làm bền chặt hơn nghĩa tình dân tộc.
Xem thêm