Doanh nghiệp phải tự chi trả quyền lợi cho người lao động nếu không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp
Diễn đàn

Doanh nghiệp phải tự chi trả quyền lợi cho người lao động nếu không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp

Phương Mai - Nguyễn Hằng
Theo quy định mới, người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng…
Từ 1/1/2026, người tham gia bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng thêm quyền lợi

Luật Việc làm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Cụ thể, theo khoản 7, Điều 33 của Luật, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, mà người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật.

Điều này áp dụng với các chế độ như: Trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; tư vấn giới thiệu việc làm; đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp…

Trong khi đó, Luật Việc làm 2013 (hiện đang áp dụng) chỉ quy định nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động trong vòng 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.

Tuy nhiên, không có điều khoản xử lý rõ ràng nếu doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng, nhất là khi người lao động chấm dứt hợp đồng.

Về căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 1/1/2026, Điều 36 Luật Việc làm 2025 quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc.

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng, do Chính phủ công bố tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc, thì người lao động và người sử dụng lao động tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Trường hợp người lao động được truy lĩnh đủ tiền lương, thì người lao động và người sử dụng lao động đóng bù cho thời gian bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng, và thực hiện đồng thời với việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Việc truy thu, truy đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện cùng với việc truy thu, truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Theo Luật mới, từ ngày 1/1/2026, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp, cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp được bảo lưu theo quy định.

Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức. Chính phủ quy định về thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Việc Luật Việc làm 2025 quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động khi không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là một bước tiến mạnh mẽ trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.

Thực tế trong thời gian qua cho thấy, tình trạng doanh nghiệp trốn, chậm hoặc cố tình không tham gia đầy đủ các loại bảo hiểm cho người lao động diễn ra khá phổ biến, khiến người lao động bị thiệt thòi nặng nề khi mất việc, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi việc làm hoặc học nghề.

Tin mới hơn

Chính phủ quyết định tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1.7

Chính phủ quyết định tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1.7

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở mới áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 1.7.2026 là 2.530.000 đồng/tháng, tăng so với mức 2.340.000 đồng hiện hành.
21 khoản miễn thuế của Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi mà người lao động cần nắm rõ

21 khoản miễn thuế của Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi mà người lao động cần nắm rõ

Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, đã bổ sung và làm rõ 21 khoản thu nhập được miễn thuế. Đây được xem là điểm đáng chú ý nhằm bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người dân và khuyến khích các hoạt động sản xuất, sáng tạo, đổi mới công nghệ.
Từ ngày 15.5, dùng thuốc lá điện tử có thể bị phạt đến 5 triệu đồng

Từ ngày 15.5, dùng thuốc lá điện tử có thể bị phạt đến 5 triệu đồng

Từ ngày 15.5.2026, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế chính thức có hiệu lực. Một trong những nội dung đáng chú ý là các quy định xử phạt liên quan đến hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Tin tức khác

Dừng đóng bảo hiểm xã hội bao lâu thì không được hưởng thai sản?

Dừng đóng bảo hiểm xã hội bao lâu thì không được hưởng thai sản?

Nhiều lao động nữ sau khi nghỉ việc hoặc gián đoạn tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) thường băn khoăn liệu mình có còn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con hay không. Theo quy định của Luật BHXH năm 2024, việc từng tham gia BHXH nhiều năm chưa phải là yếu tố quyết định, mà điều quan trọng là thời gian đóng BHXH trong giai đoạn ngay trước khi sinh con.
Quy trình mới về thu BHXH, cấp sổ BHXH và thẻ BHYT: Người lao động được hưởng lợi gì?

Quy trình mới về thu BHXH, cấp sổ BHXH và thẻ BHYT: Người lao động được hưởng lợi gì?

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành Quyết định số 366/QĐ-BHXH về quy trình thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo hướng đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa dữ liệu và tăng cường kiểm soát tình trạng chậm, trốn đóng bảo hiểm của doanh nghiệp.
Đóng đủ bảo hiểm xã hội nhưng nghỉ trước tuổi có được nhận lương hưu?

Đóng đủ bảo hiểm xã hội nhưng nghỉ trước tuổi có được nhận lương hưu?

Nhiều người lao động sau khi đã đóng đủ 20 năm bảo hiểm xã hội (BHXH) lựa chọn nghỉ việc sớm vì lý do sức khỏe, áp lực công việc hoặc chuyển hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, không ít người băn khoăn liệu đã đủ số năm đóng BHXH nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu thì có được nhận lương hưu ngay hay phải chờ đến đủ tuổi theo quy định.
Người lao động không thể đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện cùng lúc

Người lao động không thể đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện cùng lúc

Nhiều người lao động hiện nay mong muốn tăng thêm nguồn tích lũy để có mức lương hưu cao hơn khi về già nên đặt câu hỏi: đang tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc tại doanh nghiệp có thể tiếp tục đóng thêm BHXH tự nguyện hay không? Theo quy định của Luật BHXH năm 2024, điều này không được phép thực hiện trong cùng một thời gian.
Nộp hồ sơ thai sản trễ nhiều tháng, người lao động có mất quyền lợi?

Nộp hồ sơ thai sản trễ nhiều tháng, người lao động có mất quyền lợi?

Không ít lao động nữ sau khi nghỉ sinh con mới bắt đầu hoàn thiện thủ tục hưởng chế độ thai sản và băn khoăn liệu việc nộp hồ sơ muộn có bị mất quyền lợi bảo hiểm xã hội hay không. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động vẫn có thể được xem xét giải quyết chế độ trong trường hợp nộp hồ sơ trễ hạn, tuy nhiên phải thực hiện thêm thủ tục giải trình theo quy định.
Người lao động thuộc nhóm nào được hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung từ 10.5?

Người lao động thuộc nhóm nào được hưởng bảo hiểm hưu trí bổ sung từ 10.5?

Từ ngày 10.5.2026, Nghị định 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung chính thức có hiệu lực, mở thêm một kênh tích lũy an sinh dài hạn cho người lao động bên cạnh chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Xem thêm