Từ thực trạng thiếu lao động hiện nay...
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu phục hồi mạnh mẽ từ Quý 4/2021 (tăng trưởng 5,22% so với cùng kỳ). Song, lực lượng lao động (LLLĐ) quý 4/2021 cũng chỉ đạt 50,7 triệu người, thấp hơn 1,4 triệu người so với cùng kỳ. Tương tự, kinh tế quý I/2022 đã phục hồi mạnh mẽ lên đến 5,8%, nhưng LLLĐ cũng chỉ đạt 51,2 triệu người, thấp hơn 4,8 triệu người so với quý IV/2019 (thời điểm trước dịch bệnh). Lao động có việc làm của quý I/2022 cũng ít hơn khoảng 4,8 triệu người so với quý IV/2019.
Theo báo cáo nhanh của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong quý I/2022 đã xảy ra thiếu hụt lao động cục bộ tại một số địa phương với 120.000 lao động.
![]() |
| Tư vấn việc làm cho thanh niên công nhân do Trung tâm dịch vụ việc làm thanh niên TP. Hồ Chí Minh tổ chức. Ảnh: TTXVN. |
... đến giải quyết vấn đề thiếu lao động
Diễn biến lao động và việc làm từ quý I/2019 đến quý I/2022
| Qúy I 2019* | Qúy IV 2019* | Qúy I 2020 | Qúy IV 2021 | Qúy I 2022 | |
| LLLĐ (nghìn người) | 55.475,7 | 56.004,6 | 55.331,5 | 50.700 | 51.180 |
| Tỷ lệ tham gia LLLĐ (%) | 76,7 | 76,6 | 75,4 | 67,7 | 68,1 |
| Lao động việc làm (nghìn người) | 54.367,9 | 54.895,7 | 54.213,3 | 49.070 | 50.036,2 |
(*) Số liệu đã điều chỉnh lại theo dân số Tổng điều tra năm 2019.
Nguồn: Báo cáo tình hình lao động, việc làm hàng quý của Tổng cục Thống kê.
Sự phục hồi kinh tế hiện nay đang được hưởng lợi từ dòng vốn dồi dào trong và ngoài nước. Các gói kích thích kinh tế của Chính phủ đang được ráo riết giải ngân để tạo ra động lực chính cho quá trình phục hồi.
Tính tới ngày 29/4/2022, dư nợ tín dụng trong hệ thống ngân hàng đã tăng tới 7,18% so với cuối năm 2021, tăng 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Với mức tăng nợ này, năm 2022 dư nợ có khả năng vượt chỉ tiêu 14% mà Ngân hàng Nhà nước đã đặt ra. Vốn đầu tư nước ngoài riêng trong 4 tháng đầu năm đã đạt gần 6 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ.
Như vậy, sự phục hồi kinh tế phụ thuộc rất lớn vào việc tháo gỡ được nút thắt trên thị trường lao động. Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta vẫn sẽ cần rất nhiều lao động trong khu vực chính thức. Do đó đảm bảo cho sự dịch chuyển lao động bền vững từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp là yêu cầu trọng yếu.
LLLĐ giảm cho thấy, đã có một số lượng rất lớn lao động từ khu vực thành thị trở về nông thôn trong thời kỳ dịch đã không được điều tra khảo sát đầy đủ trong các kỳ khảo sát; hoặc những người này khai báo là không có việc và chưa muốn đi tìm việc, do đó được xếp vào nhóm không tham gia LLLĐ. Thu hút được LLLĐ này trở lại làm việc sẽ tạo ra cú huých cực lớn trong việc đẩy nhanh đà phục hồi kinh tế. Báo cáo khảo sát thị trường lao động phổ thông cho thấy, 42% lao động về quê trong đại dịch không có ý định quay lại TP. Hồ Chí Minh làm việc.
NLĐ chưa quay trở lại làm việc sau khi phải rời bỏ thành thị về quê trong đại dịch cho thấy thu nhập kỳ vọng của họ tại thành thị không lớn hơn thu nhập hiện tại tại quê nhà. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trở lại thành phố thì hầu hết đều là các yếu tố thuận lợi (tức là hỗ trợ quyết định quay trở lại thành phố của NLĐ).
Kinh tế đang trên đà phục hồi, các doanh nghiệp thiếu lao động nên khả năng kiếm được việc làm tại các KCN hiện rất cao. Tiền lương sau đại dịch cũng đã được điều chỉnh tăng nhẹ trong khi chi phí cuộc sống tại thành thị không thay đổi quá lớn so với trước đại dịch.
![]() |
| Một công ty tại thị xã Tân Uyên (Bình Dương) đặt biển tuyển dụng lao động không giới hạn. Ngoài ra, công ty còn đưa ra rất nhiều chế độ phụ cấp cho công nhân may để thu hút người lao động vào công ty làm việc như phụ cấp nhà ở, độc hại, con nhỏ... Ảnh: P.V. |
Những gì trải qua trong đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận rủi ro tại cuộc sống thành thị của NLĐ nhập cư; gần như xóa sạch những tích lũy ít ỏi có được của NLĐ có được trong những năm qua.
Đại dịch cũng làm cho NLĐ đánh giá lại những rủi ro mà họ và con cái họ phải chịu khi lao vào cuộc sống cạnh tranh khốc liệt tại thành thị; khi cảm nhận về chi phí cho rủi ro tăng mạnh sẽ làm cho thu nhập kỳ vọng giảm mạnh. NLĐ sau khi trở về quê, đặc biệt là những người phải đưa cả gia đình trở về sẽ rất ngần ngại quay trở lại vì họ nhận thấy chi phí phòng ngừa các rủi ro ở đô thị và chi phí để bắt đầu cuộc sống mới tại đô thị đối với họ là quá cao.
Sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội, kinh tế chia sẻ, hạ tầng giao thông kết nối thành thị nông thôn cũng thuận lợi cho phép nhiều người trở về quê nhưng vẫn có thể tìm kiếm được cơ hội việc làm trong khu vực phi chính thức. Đây là yếu tố neo giữ NLĐ ở lại quê nhà mặc dù kinh tế đã hồi phục trở lại, nhu cầu việc làm tăng cao.
Để đảm bảo cho quá trình dịch chuyển lao động bền vững, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa, việc giảm chi phí và rủi ro cuộc sống cho NLĐ tại các đô thị đóng vai trò then chốt. Hiện thu nhập trong khu vực nông thôn đang tăng nhanh, đòi hỏi tiền lương khu vực chính thức tại đô thị cũng phải tăng theo để đảm bảo tính hấp dẫn của khu vực đô thị.
Tăng lương tối thiểu cho NLĐ không chỉ nhằm hỗ trợ chi phí cuộc sống cho NLĐ, mà còn là động thái giúp cho quá trình chuyển dịch lao động bền vững hơn, qua đó giúp cho chính các doanh nghiệp ổn định hơn trong quá trình phát triển. Tăng chi phí tiền lương sẽ tạo thêm sức ép cho doanh nghiệp trong ngắn hạn, đồng thời buộc các doanh nghiệp phải cải thiện quy trình sản xuất, công nghệ, trình độ của NLĐ để nâng cao năng suất lao động, bù lại chi phí lao động tăng cao.
Đó là quá trình chuyển đổi từ khai thác lợi thế lao động giá rẻ sang khai thác lợi thế cạnh tranh dựa trên công nghệ và kỹ năng của NLĐ - là quá trình chuyển đổi bắt buộc. Doanh nghiệp nào thích nghi sớm hơn với sức ép tiền lương sẽ có lợi thế lớn hơn về cạnh tranh trong dài hạn.
![]() |
| Công nhân Công ty TNHH Twinkle Việt Nam (Bà Rịa - Vũng Tàu ) gia công phụ kiện khóa, móc để sản xuất vali xuất khẩu. Ảnh: ĐÔNG HIẾU. |
Việc giảm rủi ro cho cuộc sống của NLĐ nhập cư là yếu tố then chốt trong việc thu hút lao động trở lại các KCN. Bên cạnh việc củng cố lại chính sách an sinh xã hội, các chính sách xây dựng nhà ở xã hội, ký túc xá cho công nhân cần được đẩy mạnh để đảm bảo cho NLĐ có thể tiếp cận được nhà ở theo chuẩn mức sống cơ bản hiện nay, qua đó giúp giảm tính bất trắc trong cuộc sống của họ.
Cũng cần loại bỏ sự phân biệt người địa phương và lao động nhập cư theo hộ khẩu trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế cơ bản. Đó là điều rất cần thiết, qua đó tăng tính hấp dẫn của việc dịch chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực thành thị.
Tài liệu tham khảo:
1. Aquino L. E., Jaylson J.S., T.J.P Jenna (2006) Brazilian Journal of Physics, “A Harris-Todaro Agent-Based Model to Rural-Urban Migration”, vol. 36, no. 3A, September, 2006.
2. Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình lao động, việc làm hằng quý.
3. Báo thanhnien.vn.
Mua bán người luôn là vấn đề nóng không chỉ ở mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn nạn toàn cầu. |
So với các ngành khác, lao động trong nông nghiệp có nguy cơ mắc tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) chỉ ... |
Bạn Nguyễn Minh Hương (Hòa Bình) hỏi: Tôi 23 tuổi, hiện đang là công nhân ở Công ty may xuất khẩu được hơn 6 tháng, ... |
Tin mới hơn
Bệnh viện Trung ương Huế sẽ tuyển thêm 500 viên chức, người lao động
Cần 80 lao động đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản, thu nhập đến 35 triệu đồng/tháng
Huế: Doanh nghiệp tăng tốc tuyển dụng cuối năm
Tin tức khác
Phiên giao dịch việc làm xã Tiến Thắng: “Bắt mạch” thị trường lao động qua 2.180 chỉ tiêu tuyển dụng
Thiếu giáo viên trong năm học 2025 – 2026, Huế tuyển dụng gấp 145 chỉ tiêu
Thị trường lao động: Nghịch lý “khát” nhân sự giữa tâm bão sa thải
MSB tuyển dụng loạt vị trí với thu nhập hấp dẫn lên đến 50 triệu đồng/tháng
Đi thực tập tại Nhật Bản lương đến 35 triệu đồng/tháng, về nước còn được hỗ trợ tiền khởi nghiệp


