Đứng lên sau tai nạn lao động - Bài 2: Nếu xã hội đủ nhân văn, tai nạn lao động không phải là dấu chấm hết
Người lao động

Đứng lên sau tai nạn lao động - Bài 2: Nếu xã hội đủ nhân văn, tai nạn lao động không phải là dấu chấm hết

NGÔ KHIÊM
Tác giả: NGÔ KHIÊM
Tai nạn lao động không chỉ lấy đi sức khỏe của người lao động mà còn để lại những vết thương âm ỉ về tâm lý, sinh kế và niềm tin vào tương lai. Với nhiều người, cú ngã ấy tưởng như là dấu chấm hết cho một đời làm việc. Nhưng theo PGS.TS Vũ Văn Thú, Trưởng khoa An toàn lao động và Sức khỏe nghề nghiệp, Trường Đại học Công đoàn, nếu xã hội đủ nhân văn, đủ trách nhiệm và đủ kiên nhẫn đồng hành thì người lao động hoàn toàn có thể “đứng lên sau tai nạn”.

PV: Thưa ông, dưới góc độ chuyên môn, tai nạn lao động để lại những “vết thương” nào cho người lao động ngoài tổn thương thể chất?

PGS, TS. Vũ Văn Thú: Khi nói đến tai nạn lao động, xã hội thường chỉ nhìn thấy phần “nổi” là thương tật cơ thể: Mất sức lao động, suy giảm khả năng làm việc, thậm chí tàn phế. Nhưng với người làm công tác an toàn lao động, điều đáng lo ngại hơn lại nằm ở những tổn thương vô hình.

Thứ nhất là tổn thương tâm lý. Rất nhiều người lao động sau tai nạn rơi vào trạng thái sợ hãi kéo dài, mất tự tin, ám ảnh với máy móc, công trường hoặc cảm giác mình trở thành “gánh nặng”. Những sang chấn này nếu không được can thiệp kịp thời, người bị tai nạn sẽ dẫn đến trầm cảm, thu mình với xã hội.

Thứ hai là đứt gãy sinh kế. Tai nạn lao động thường xảy ra với lao động trực tiếp, thu nhập phụ thuộc hoàn toàn vào sức khỏe. Khi khả năng lao động bị suy giảm, người lao động mất việc, mất nguồn thu, kéo theo hệ lụy cho cả gia đình.

Cuối cùng là sự đứt đoạn về vị thế xã hội. Từ một người lao động lành nghề, trụ cột gia đình, họ có thể trở thành người thất nghiệp, phụ thuộc, điều này gây tổn thương sâu sắc đến lòng tự trọng và ý chí vươn lên.

Bài 2: Nếu xã hội đủ nhân văn, tai nạn lao động không phải là dấu chấm hết
PGS, TS. Vũ Văn Thú.

PV: Ở góc độ đào tạo an toàn, vệ sinh lao động, ông đánh giá thế nào về vai trò của phòng ngừa tai nạn trong việc giúp người lao động “không phải đứng dậy từ đổ nát”?

PGS, TS. Vũ Văn Thú: Trong khoa học an toàn lao động, chúng tôi luôn nói: Phòng ngừa là biện pháp nhân văn và kinh tế nhất. Mỗi vụ tai nạn không chỉ là một sự cố kỹ thuật mà là thất bại của cả hệ thống quản lý an toàn. Nếu công tác huấn luyện an toàn được làm đúng, làm đủ, làm thực chất; nếu đánh giá rủi ro được tiến hành thường xuyên; nếu người lao động chủ động thực hiện quyền từ chối công việc khi thấy rõ có nguy cơ xẩy ra tai nạn lao động thì rất nhiều tai nạn đã không xảy ra.

Khi phòng ngừa tốt, người lao động không phải trả giá bằng sức khỏe hay mạng sống, gia đình họ không rơi vào khủng hoảng, xã hội không phải gánh thêm những tổn thất dài hạn. Nói cách khác, phòng ngừa chính là cách tốt nhất để người lao động không phải “đứng lên sau tai nạn”, bởi họ chưa từng bị đẩy ngã.

PV: Từ kinh nghiệm đào tạo của mình, ông cho rằng người lao động sau tai nạn cần được hỗ trợ những gì để có thể quay lại lao động?

PGS,TS. Vũ Văn Thú: Theo tôi, hỗ trợ sau tai nạn lao động phải đi theo ba tầng nấc song song. Thứ nhất là phục hồi chức năng toàn diện, không chỉ điều trị thương tật mà còn phục hồi khả năng lao động ở mức cao nhất có thể.

Thứ hai là đào tạo lại hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Nhiều người không thể quay lại công việc cũ nhưng hoàn toàn có thể đảm nhiệm công việc nhẹ hơn, phù hợp hơn nếu được đào tạo lại bài bản.

Thứ ba là hỗ trợ tâm lý và định hướng nghề nghiệp. Người lao động cần được tư vấn để hiểu rằng tai nạn không chấm dứt giá trị của họ, mà chỉ buộc họ đi theo một con đường khác. Nếu thiếu một trong ba yếu tố này, quá trình “đứng lên” sẽ rất chông chênh.

PV: Ông đánh giá thế nào về chất lượng công tác huấn luyện an toàn lao động hiện nay, đặc biệt là huấn luyện cho lao động phổ thông, lao động thời vụ - nhóm dễ bị tổn thương nhất?

PGS, TS. Vũ Văn Thú: Tôi cho rằng chất lượng công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống đáng lo ngại, đặc biệt đối với lao động phổ thông, lao động thời vụ, lao động khu vực phi chính thức - những nhóm dễ bị tổn thương nhất trong thị trường lao động.

Trước hết, không thể phủ nhận rằng hệ thống văn bản pháp luật về huấn luyện an toàn lao động tương đối đầy đủ, quy định rõ đối tượng, nội dung và thời gian huấn luyện. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở cách triển khai trong thực tế. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất, công trình xây dựng ngắn hạn, việc huấn luyện vẫn mang nặng tính đối phó, hình thức, làm cho “đủ hồ sơ” hơn là làm cho người lao động “hiểu và tự bảo vệ mình”.

Đối với lao động phổ thông và lao động thời vụ, tôi thấy nổi lên ba bất cập lớn. Thứ nhất, phương pháp huấn luyện chưa phù hợp với trình độ và đặc điểm của người học. Nhiều chương trình vẫn sử dụng ngôn ngữ pháp lý, thuật ngữ kỹ thuật khô cứng, tài liệu dài, trong khi người lao động phổ thông cần cách tiếp cận trực quan, dễ hiểu, gắn với tình huống thực tế mà họ sẽ gặp hằng ngày. Huấn luyện mà người lao động “nghe xong nhưng không nhớ, không dám hỏi, không biết áp dụng” thì về bản chất là chưa đạt yêu cầu.

Thứ hai, thời lượng và điều kiện tổ chức huấn luyện chưa được tốt. Không ít nơi tổ chức huấn luyện gói gọn trong ít giờ, thậm chí vài chục phút trước khi vào ca làm việc. Với những công việc tiềm ẩn nguy cơ cao như xây dựng, cơ khí, khai thác khoáng sản, điện, hóa chất…, cách tổ chức huấn luyện an toàn lao động như này là chưa đáp ứng yêu cầu. An toàn lao động không thể “truyền đạt cho xong”, mà cần được lặp lại, thực hành, kiểm tra và nhắc nhở thường xuyên.

Thứ ba, lao động thời vụ và lao động thuê khoán thường bị đứng ngoài hệ thống huấn luyện bài bản. Đây là thực tế đáng buồn. Do tính chất ngắn hạn của hợp đồng, nhiều chủ sử dụng lao động cho rằng “không cần huấn luyện kỹ”, hoặc đẩy trách nhiệm sang tổ đội, thầu phụ. Trong khi trên thực tế, chính nhóm lao động này lại là nhóm chiếm tỷ lệ cao trong các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng và chết người.

Từ góc độ chuyên môn, tôi cho rằng huấn luyện an toàn lao động cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư bắt buộc cho sự bền vững, chứ không phải là chi phí có thể cắt giảm. Đặc biệt với lao động yếu thế, cần chuyển từ tư duy “huấn luyện cho đủ” sang “huấn luyện để sống còn”.

Thời gian tới, tôi rất mong công tác huấn luyện an toàn lao động sẽ có những thay đổi căn bản:

- Thiết kế nội dung, phương pháp huấn luyện riêng cho từng nhóm lao động, nhất là lao động phổ thông, lao động thời vụ.

- Tăng huấn luyện tại hiện trường, mô phỏng tình huống tai nạn cụ thể, cho người lao động “thấy – chạm – làm”, thay vì chỉ nghe giảng.

- Gắn trách nhiệm pháp lý rõ ràng hơn với người sử dụng lao động trong việc huấn luyện cho cả lao động chính thức và không chính thức.

- Và một điều quan trọng nữa, cần tăng cường nhận thức và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc, nơi người lao động được quyền từ chối công việc không an toàn mà không sợ mất việc.

Nếu công tác huấn luyện được làm đúng, làm tốt và làm đến nơi đến chốn, thì rất nhiều tai nạn lao động hoàn toàn có thể phòng tránh được. An toàn lao động, suy cho cùng, không chỉ là kiến thức, mà là sự tôn trọng đối với tính mạng và phẩm giá của người lao động.

PV: Trong quá trình công tác, ông đã từng gặp hoàn cảnh nào của người lao động bị tai nạn khiến ông xúc động nhất và cảm nghĩ của ông khi đó ra sao?

PGS, TS. Vũ Văn Thú: Có một trường hợp tôi vẫn luôn nhớ. Đó là một công nhân trẻ trong ngành xây dựng bị tai nạn nghiêm trọng dẫn đến mất một phần khả năng vận động. Khi tôi gặp lại em trong một buổi khảo sát, em nói với tôi điều khiến em đau nhất không phải là thể xác mà là cảm giác mình trở nên vô dụng. Sau đó, nhờ sự hỗ trợ của công đoàn và một doanh nghiệp khác, em được đào tạo lại để làm công việc giám sát an toàn tại công trường. Ngày em khoác áo bảo hộ, đứng hướng dẫn an toàn cho những công nhân khác, ánh mắt em sáng lên một cách rất đặc biệt.

Khoảnh khắc đó khiến tôi tin rằng: Nếu xã hội đủ nhân văn, thì tai nạn lao động không phải là dấu chấm hết mà có thể trở thành một bước ngoặt để người lao động tìm thấy giá trị mới của mình. Và đó cũng là lý do tôi gắn bó trọn vẹn với lĩnh vực an toàn lao động suốt nhiều năm qua.

PV: Từ góc độ một nhà khoa học về an toàn lao động, ông muốn gửi thông điệp gì tới người lao động đã và đang chịu hậu quả của tai nạn lao động?

PGS, TS. Vũ Văn Thú: Tôi muốn nói với họ, tai nạn lao động không định nghĩa con người bạn. Giá trị của người lao động không chỉ nằm ở sức khỏe thể chất mà còn ở kinh nghiệm, ý chí và khả năng thích nghi.

Xã hội, doanh nghiệp và các thiết chế như công đoàn, nhà trường có trách nhiệm tạo điều kiện để bạn đứng lên. Nhưng chính bản thân người lao động cũng cần tin rằng mình vẫn còn con đường phía trước.

Một xã hội văn minh không chỉ đo bằng tốc độ phát triển mà còn bằng cách nó nâng đỡ những người đã từng ngã xuống vì lao động.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tin mới hơn

Tết của những công nhân không có chuyến xe hồi hương

Tết của những công nhân không có chuyến xe hồi hương

Những ngày cuối năm, giữa những khu nhà trọ công nhân san sát ở TP. Đà Nẵng, khói bánh chưng quyện trong gió lạnh, tiếng cười xen lẫn nỗi nhớ quê. Với nhiều công nhân xa xứ, Tết năm nay không có chuyến xe hồi hương, nhưng bù lại là sự ấm áp, nghĩa tình nơi xóm trọ.
Nhịp cầu sẻ chia ở Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng

Nhịp cầu sẻ chia ở Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng

Nhiều năm qua, Phòng Công tác xã hội Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng trở thành nhịp cầu thầm lặng kết nối cộng đồng với người bệnh. Không chỉ hỗ trợ nguồn lực, đây còn là điểm tựa tinh thần, đồng hành bệnh nhân và gia đình, góp phần lan tỏa những giá trị nhân văn trong môi trường y tế.
Những ca trực "giữ nhịp" mùa Xuân

Những ca trực "giữ nhịp" mùa Xuân

Giữa không khí rộn ràng của những ngày Tết ở Đà Nẵng, khi phố phường ngập tràn sắc xuân và mọi nhà sum vầy đoàn tụ, vẫn có những con người lặng lẽ bước vào ca trực. Từ lực lượng công an, điện lực, y tế đến quân đội, họ âm thầm "giữ nhịp" vận hành của thành phố, để mùa xuân nơi đây luôn an toàn, trọn vẹn và bình yên.

Tin tức khác

Ngành Ngân hàng: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và bảo đảm an toàn bền vững

Ngành Ngân hàng: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và bảo đảm an toàn bền vững

Chuyển hóa những khẩu hiệu hành động thành yêu cầu tự thân của mỗi đoàn viên, để đổi mới sáng tạo không còn là phong trào bề nổi mà thực sự trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ thúc đẩy năng suất lao động và bảo đảm an toàn bền vững trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm an toàn cho tàu cá và ngư dân trước mùa mưa bão 2026

Bảo đảm an toàn cho tàu cá và ngư dân trước mùa mưa bão 2026

Trong 4 tháng đầu năm 2026, đã có 37 người chết và mất tích cùng 10 tàu cá bị chìm trên biển. Trước con số báo động này, Nghiệp đoàn Nghề cá Việt Nam đã ra văn bản khẩn, yêu cầu các cấp cơ sở siết chặt kỷ cương an toàn lao động, sẵn sàng các phương án ứng phó với thời tiết cực đoan để bảo vệ tính mạng và tài sản cho đoàn viên, ngư dân.
Những “bóng hồng” lặng thầm vì sức khỏe cộng đồng

Những “bóng hồng” lặng thầm vì sức khỏe cộng đồng

Đằng sau các ca cấp cứu căng thẳng hay những ngày dài chăm sóc bệnh nhân mạn tính là hình ảnh các nữ điều dưỡng bền bỉ đồng hành. Sự tận tâm và trách nhiệm của họ trở thành điểm tựa quan trọng, nâng đỡ người bệnh trong từng giai đoạn điều trị.
Những người “gác cửa” thầm lặng tại bệnh viện

Những người “gác cửa” thầm lặng tại bệnh viện

Đội ngũ Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn là những "người gác cửa" thầm lặng, giữ vai trò tuyến đầu bảo vệ sức khỏe. Tại Bệnh viện Đà Nẵng nói riêng và các cơ sở y tế nói chung, họ miệt mài làm việc phía sau mỗi ca phẫu thuật, đặc biệt là ghép tạng. Công việc tỉ mỉ này là "lá chắn" vững chắc, ngăn chặn nhiễm khuẩn, đảm bảo thành công cho mọi điều trị.
Những “người thân” trong sắc trắng

Những “người thân” trong sắc trắng

Giữa ranh giới mong manh của sự sống, có những bàn tay ấm áp vỗ về, những lời động viên khe khẽ được gửi đi mỗi ngày. Những điều tưởng chừng rất nhỏ ấy lại trở thành điểm tựa, giúp người bệnh vững lòng đi qua tháng ngày nhọc nhằn.
Nữ điều dưỡng hết lòng vì người bệnh

Nữ điều dưỡng hết lòng vì người bệnh

Ở nơi tiếp xúc đầu tiên với người dân khi đến khám, điều dưỡng trưởng Hà Thị Mộng Thúy (Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Đà Nẵng) trở thành điểm tựa tin cậy của nhiều bệnh nhân. Sự tận tâm, ân cần của chị góp phần tạo cảm giác an tâm khi họ bước vào hành trình khám chữa bệnh.
Xem thêm