Trong giai đoạn phát triển mới, khi Việt Nam đặt ra những mục tiêu tăng trưởng cao hơn, khát vọng lớn hơn và yêu cầu tự chủ nền kinh tế rõ ràng hơn, câu chuyện phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) không còn là một nội dung riêng của chính sách kinh tế, mà đã trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực phát triển quốc gia.

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KTTN đã tạo ra một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển: KTTN được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt vai trò, mà còn là một định hướng chính trị rất mạnh mẽ, đặt khu vực KTTN vào vị trí trung tâm của tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ góc nhìn của một đại biểu Quốc hội, tôi cho rằng, nếu muốn đạt được các mục tiêu tăng trưởng mới, chúng ta phải nhìn KTTN như một “đầu kéo” thực sự. Đầu kéo ấy không chỉ kéo theo tăng trưởng GDP, mà còn kéo theo việc làm, thu ngân sách, năng lực cạnh tranh, công nghệ, quản trị, văn hóa kinh doanh và sức chống chịu của nền kinh tế.

Thực tế cho thấy, khu vực KTTN đã và đang đóng góp rất lớn vào nền kinh tế. Tỷ trọng đóng góp vào GDP ở mức khoảng một nửa quy mô nền kinh tế cho thấy đây là khu vực không thể thay thế trong cấu trúc tăng trưởng của Việt Nam. KTTN cũng là khu vực tạo việc làm chủ yếu cho xã hội, huy động nguồn lực rất lớn trong dân, lan tỏa tinh thần khởi nghiệp, thúc đẩy năng động thị trường, mở rộng không gian sản xuất kinh doanh và góp phần làm cho nền kinh tế vận hành linh hoạt hơn.

Kinh tế tư nhân - “Đầu kéo” của mục tiêu tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng. Ảnh: QH.

Tuy nhiên, điều đáng bàn là: đóng góp lớn về tỷ trọng chưa đồng nghĩa với năng lực dẫn dắt đã đủ mạnh. Đây là điểm cần được nhìn thẳng. KTTN Việt Nam đông về số lượng, rộng về phạm vi hoạt động, nhưng chưa thật mạnh về quy mô, năng lực công nghệ, quản trị hiện đại, năng suất lao động và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nói cách khác, chúng ta có một khu vực tư nhân rất quan trọng, nhưng vẫn thiếu những doanh nghiệp tư nhân lớn đủ sức trở thành sếu đầu đàn” trong các ngành then chốt, đủ năng lực dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng phát triển.

Nếu ví nền kinh tế là một đoàn tàu, thì KTTN không thể chỉ là những toa hàng rời rạc, tự chuyển động trong phạm vi nhỏ hẹp. Muốn trở thành “đầu kéo”, khu vực này cần có những doanh nghiệp đủ lớn, đủ sức cạnh tranh, đủ năng lực công nghệ, đủ chuẩn quản trị và đủ tầm nhìn dài hạn để mở thị trường, dẫn chuỗi, kéo các doanh nghiệp vệ tinh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chuyển lên phương thức sản xuất chuyên nghiệp hơn.

Rào cản đầu tiên hiện nay là về niềm tin và môi trường kinh doanh.

Dù chúng ta đã cải cách rất mạnh, nhiều doanh nghiệp vẫn còn tâm lý e ngại về tính ổn định, dự báo được và nhất quán trong thực thi chính sách. Doanh nghiệp sợ nhất không phải là nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ tuân thủ hay cạnh tranh thị trường; họ sợ hơn là sự thay đổi bất ngờ, cách hiểu không thống nhất giữa các cấp, các ngành, tình trạng trên mở, dưới thắt”, hoặc một vấn đề pháp lý có thể có những diễn giải khác nhau ở các thời điểm khác nhau. Một môi trường kinh doanh tốt không chỉ là thủ tục ít hơn, mà còn phải là môi trường mà doanh nghiệp có thể tiên liệu được rủi ro, tính toán được chi phí tuân thủ và yên tâm đầu tư dài hạn.

Rào cản thứ hai là khả năng tiếp cận nguồn lực.

Đất đai, vốn, dữ liệu, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và cơ hội tham gia các dự án lớn đều là những nguồn lực then chốt để doanh nghiệp tư nhân lớn lên. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó trong tiếp cận tín dụng, mặt bằng sản xuất, thông tin thị trường và các chương trình hỗ trợ.

Không ít doanh nghiệp có ý tưởng tốt, thị trường tốt nhưng không có tài sản bảo đảm; có sản phẩm tốt nhưng thiếu năng lực quản trị tài chính; có khát vọng đổi mới công nghệ nhưng thiếu nguồn vốn dài hạn; có mong muốn chuyển đổi xanh, chuyển đổi số nhưng không đủ nhân lực và tư vấn chuyên sâu.

Rào cản thứ ba là quy mô doanh nghiệp còn nhỏ và tính liên kết yếu.

Một nền kinh tế muốn có sức cạnh tranh quốc tế phải có các chuỗi sản xuất, cung ứng, dịch vụ đủ mạnh. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn phát triển theo hướng đơn lẻ, thiếu liên kết ngang, liên kết dọc, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt và thiếu sự gắn kết thực chất giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp nhỏ không lớn lên được thì khó đầu tư cho công nghệ. Không có công nghệ thì năng suất thấp. Năng suất thấp thì lợi nhuận mỏng. Lợi nhuận mỏng lại khiến doanh nghiệp khó tích lũy vốn, khó nâng cấp quản trị, khó tham gia thị trường quốc tế. Đó là vòng luẩn quẩn cần được tháo gỡ bằng chính sách đủ mạnh và thực thi đủ hiệu quả.

Rào cản thứ tư là chất lượng quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo.

Trong nền kinh tế hiện đại, lợi thế không còn nằm chủ yếu ở lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên, mà nằm ở tri thức, công nghệ, dữ liệu, thương hiệu, tiêu chuẩn và khả năng tổ chức chuỗi giá trị. Một doanh nghiệp tư nhân muốn lớn mạnh không thể chỉ dựa vào sự nhạy bén thị trường, mà phải nâng cấp quản trị, minh bạch tài chính, chuẩn hóa hoạt động, đầu tư cho nghiên cứu phát triển, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Đây vừa là yêu cầu tự thân của doanh nghiệp, vừa là điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, đối tác chiến lược, thị trường quốc tế và các chuẩn mực phát triển bền vững.

Rào cản thứ năm là áp lực chuyển đổi xanh.

Sau COP26, phát triển xanh không còn là khẩu hiệu mà đang trở thành điều kiện của thương mại, đầu tư và xuất khẩu. Các tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất nguồn gốc, lao động, môi trường, kinh tế tuần hoàn, trách nhiệm xã hội sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Nếu doanh nghiệp tư nhân không được hỗ trợ để chuyển đổi, nhiều doanh nghiệp có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế. Nhưng nếu chuyển đổi thành công, đây lại là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp vị thế, đi vào phân khúc thị trường có giá trị cao hơn.

Vậy cần cơ chế gì để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh?

Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy tháo gỡ khó khăn” sang tư duy kiến tạo năng lực phát triển”. Tháo gỡ khó khăn là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở tháo gỡ từng vụ việc, từng thủ tục, từng vướng mắc cụ thể thì chưa đủ. Chính sách phải hướng tới tạo năng lực dài hạn cho doanh nghiệp: năng lực vốn, năng lực công nghệ, năng lực quản trị, năng lực nhân lực, năng lực tiếp cận thị trường và năng lực tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế. Một doanh nghiệp muốn lớn không chỉ cần được cởi trói”, mà còn cần một hệ sinh thái giúp họ lớn lên một cách lành mạnh, minh bạch và bền vững.

Thứ hai, cần bảo đảm thực thi nhất quán quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản. Đây là nền tảng của niềm tin thị trường. Khi doanh nghiệp yên tâm rằng quyền tài sản, quyền kinh doanh hợp pháp, quyền ký kết và thực hiện hợp đồng được bảo vệ hiệu quả, họ mới dám đầu tư dài hạn. Cùng một chính sách đúng nhưng nếu thực thi thiếu nhất quán, doanh nghiệp vẫn không thể yên tâm. Vì vậy, trọng tâm thời gian tới không chỉ là ban hành chính sách mới, mà là đo lường chất lượng thực thi chính sách ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương.

Thứ ba, cần có cơ chế chọn lọc và nuôi dưỡng doanh nghiệp có tiềm năng dẫn dắt, nhưng phải dựa trên nguyên tắc thị trường, minh bạch và cạnh tranh bình đẳng. Hỗ trợ doanh nghiệp lớn không có nghĩa là tạo đặc quyền, đặc lợi. Ngược lại, càng hỗ trợ doanh nghiệp lớn càng phải gắn với trách nhiệm lớn: trách nhiệm đổi mới công nghệ, trách nhiệm liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, trách nhiệm nội địa hóa chuỗi cung ứng, trách nhiệm đào tạo nhân lực, trách nhiệm bảo vệ môi trường và trách nhiệm đóng góp cho cộng đồng. Doanh nghiệp lớn phải là lực kéo phát triển, không phải là lực hút nguồn lực về phía mình.

Kinh tế tư nhân - “Đầu kéo” của mục tiêu tăng trưởng mới

Tạo dựng niềm tin để kinh tế tư nhân bứt phá. (Trong ảnh: Nhà máy lắp ráp xe ô tô của tập đoàn Thành Công tại khu công nghiệp Việt Hưng Quảng Ninh).

Thứ tư, cần mở rộng các kênh vốn dài hạn cho khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp không thể lớn nếu chỉ dựa vào tín dụng ngắn hạn và tài sản thế chấp. Cần thúc đẩy các mô hình tài chính phù hợp hơn với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Cùng với tín dụng ngân hàng, cần phát triển lành mạnh thị trường vốn, quỹ đầu tư, bảo lãnh tín dụng, tài chính chuỗi cung ứng và các công cụ đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. Vấn đề cốt lõi là dòng vốn phải đến được đúng doanh nghiệp có năng lực, có phương án kinh doanh khả thi, có quản trị minh bạch và có triển vọng tăng trưởng.

Thứ năm, cần lấy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh làm ba trục nâng chất kinh tế tư nhân. Không thể phát triển kinh tế tư nhân theo chiều rộng mãi. Nếu không nâng năng suất, không đổi mới công nghệ, không cải thiện quản trị và không đáp ứng tiêu chuẩn xanh, khu vực tư nhân sẽ khó vượt qua giới hạn hiện tại. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo bằng dữ liệu mở, hạ tầng số, tiêu chuẩn kỹ thuật, hỗ trợ tư vấn, đào tạo nhân lực, kết nối viện - trường - doanh nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Đổi mới sáng tạo không thể chỉ là phong trào; phải trở thành năng lực cạnh tranh thực chất.

Thứ sáu, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực FDI, viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo. Một nền kinh tế mạnh không chỉ có vài doanh nghiệp lớn, mà phải có hệ sinh thái doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp lớn cần đặt hàng, dẫn dắt, chuyển giao tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp vệ tinh nâng cấp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ để tham gia chuỗi, chuẩn hóa sản phẩm, quản trị chất lượng và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần trở thành nguồn cung tri thức, công nghệ và nhân lực cho doanh nghiệp, thay vì đứng ngoài quá trình sản xuất kinh doanh.

Thứ bảy, cần xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, thượng tôn pháp luật và khát vọng cống hiến. KTTN muốn trở thành động lực quan trọng nhất thì đội ngũ doanh nhân cũng phải được nhìn nhận như một lực lượng quan trọng của phát triển đất nước. Nhưng sự tôn vinh phải đi cùng yêu cầu chuẩn mực: làm giàu chính đáng, cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với NLĐ, với môi trường và với quốc gia. Một cộng đồng doanh nhân lớn mạnh không chỉ được đo bằng tài sản, mà còn bằng năng lực tạo giá trị bền vững cho xã hội.

Từ góc độ nghị trường, tôi cho rằng Quốc hội cần tiếp tục giám sát chặt chẽ việc thực thi các chủ trương, chính sách phát triển KTTN; lắng nghe phản ánh của doanh nghiệp về những vướng mắc trong thực tế; đồng thời đánh giá tác động chính sách không chỉ bằng số văn bản được ban hành, mà bằng mức độ giảm chi phí tuân thủ, mức độ cải thiện niềm tin, số doanh nghiệp lớn lên, số doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, mức tăng năng suất lao động và năng lực đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân.

Kinh tế tư nhân đã chứng minh vai trò quan trọng trong thực tiễn. Nhưng để trở thành “đầu kéo” của mục tiêu tăng trưởng mới, khu vực này cần được đặt trong một hệ sinh thái phát triển đầy đủ hơn, bình đẳng hơn, minh bạch hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn. Khi doanh nghiệp tư nhân được tin tưởng, được bảo vệ, được tiếp cận nguồn lực công bằng và được thúc đẩy đổi mới sáng tạo, họ sẽ không chỉ làm giàu cho chính mình, mà còn làm giàu cho đất nước.

Động lực tăng trưởng mới của Việt Nam không thể chỉ đến từ đầu tư công, xuất khẩu hay khu vực FDI. Động lực ấy phải đến từ nội lực của nền kinh tế, mà KTTN chính là một trụ cột quan trọng. Muốn đất nước vươn mình, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải vươn mình. Muốn có những doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh toàn cầu, chúng ta cần một môi trường chính sách đủ tin cậy, một cơ chế thực thi đủ thông suốt và một tinh thần đồng hành đủ bền bỉ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.

Tin tức khác

Kỳ 3: AI sẽ mở cánh cửa hay tạo khoảng cách?

Kỳ 3: AI sẽ mở cánh cửa hay tạo khoảng cách?

Internet từng mở ra cánh cửa giúp nhiều doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật bước ra khỏi những giới hạn về địa lý. Nhưng khi trí tuệ nhân tạo trở thành động lực mới của nền kinh tế, một câu hỏi khác cũng được đặt ra: công nghệ sẽ tiếp tục thu hẹp khoảng cách hay tạo nên một khoảng cách mới đối với những doanh nghiệp vốn đã nhiều bất lợi?
Kỳ 2: Vì sao doanh nghiệp xã hội vẫn khó lớn?

Kỳ 2: Vì sao doanh nghiệp xã hội vẫn khó lớn?

Những doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật đã chứng minh họ có thể tạo ra việc làm, tạo ra sản phẩm và tạo ra những giá trị xã hội bền vững. Nhưng khi bước qua giai đoạn tồn tại để hướng tới phát triển, họ lại đối diện với những rào cản mà nghị lực thôi không thể vượt qua.
Tăng lương tối thiểu vùng năm 2027 mức 7,8%: Hài hòa lợi ích để tạo động lực phát triển bền vững

Tăng lương tối thiểu vùng năm 2027 mức 7,8%: Hài hòa lợi ích để tạo động lực phát triển bền vững

Thành công của chính sách tăng lương không chỉ được đo bằng con số thu nhập thực nhận, mà phải nằm ở khả năng kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất và bảo đảm hài hòa lợi ích để doanh nghiệp phát triển bền vững, người lao động thực sự được thụ hưởng thành quả kinh tế.
Hành trình mở lối cho người khuyết tật trong nền kinh tế bao trùm - Kỳ 1: Những doanh nghiệp được xây bằng nghị lực

Hành trình mở lối cho người khuyết tật trong nền kinh tế bao trùm - Kỳ 1: Những doanh nghiệp được xây bằng nghị lực

Từ những con người từng bị coi là "gánh nặng", nhiều doanh nghiệp xã hội đã chứng minh người khuyết tật không chỉ có thể lao động mà còn sáng tạo ra những sản phẩm mang giá trị kinh tế, văn hóa và nhân văn.
Lâm Đồng: Xây nền xã hội học tập - khơi nguồn phát triển cho kỷ nguyên mới

Lâm Đồng: Xây nền xã hội học tập - khơi nguồn phát triển cho kỷ nguyên mới

Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã và đang được triển khai đồng bộ, tạo sức lan tỏa sâu rộng từ mỗi gia đình, dòng họ đến cộng đồng, cơ quan, đơn vị; không chỉ góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, mà còn tạo nền tảng quan trọng để khơi dậy khát vọng học tập, xây dựng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Khi không gian cộng đồng thay đổi: Yêu cầu đổi mới Ban Công tác Mặt trận khu dân cư

Khi không gian cộng đồng thay đổi: Yêu cầu đổi mới Ban Công tác Mặt trận khu dân cư

Việc sắp xếp thôn, tổ dân phố đang tạo ra những thay đổi đáng kể về quy mô dân cư, địa bàn và phương thức tổ chức cộng đồng. Trong bối cảnh đó, Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư tiếp tục giữ vai trò là cầu nối giữa Mặt trận với Nhân dân, nhưng đồng thời cũng đứng trước yêu cầu đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động. Từ thực tiễn triển khai tại một số địa phương, bài viết phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình kiện toàn Ban Công tác Mặt trận sau sắp xếp, qua đó đề xuất hướng hoàn thiện cơ chế tổ chức và hoạt động phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Xem thêm