![]() |
| Ông Trần Phú Vinh - Bí Thư Đảng ủy xã Đam Rông 4 cũng là người gắn bó với buôn làng nơi đây từ khi còn trẻ, đến nay đã ngót 3 thập kỷ. Ảnh: ĐL |
Về lại miền ký ức
Sau nhiều năm xa cách, những ngày đầu năm 2026, tôi có dịp trở lại xã Đam Rông 4 (tỉnh Lâm Đồng) – vùng đất được bao bọc bởi dãy LangBiang hùng vĩ và dòng K’rông Nô chảy xiết.
Vẫn là cái nóng, oi nồng - thứ quen thuộc với ai đã từng sống ở vùng đất này - “đặc quánh”, xông lên từ mặt đất đã nhiều ngày “trầm mình” dưới nắng hanh của mùa khô ở Tây Nguyên.
Nhưng điều tôi cảm nhận rõ sự đổi thay ở nơi đây là bạt ngàn nương, đồi đang khoác lên mình “tấm nhung” mới biếc xanh của ca cao, sầu riêng trĩu quả, mền mại của lá dâu non mượt; dần thay cho những “mảnh vá” lốm đốm của vạt lúa nương, bo bo hay mảnh vườn điều xơ xác xưa kia…
Đó chính là minh chứng không thể phủ nhận cho sự chuyển mình mạnh mẽ của buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây. Họ đang từng bước thoát nghèo bằng chính nội lực của mình, vững bước vươn lên cùng các dân tộc anh em khác, với sự đồng hành bền bỉ của chính quyền địa phương nơi đây.
Hiểu được suy nghĩ của tôi, ông Trần Phú Vinh - Bí Thư Đảng ủy xã Đam Rông 4 chia sẻ, con đường giảm nghèo của địa phương vẫn còn nhiều khó khăn, hiện xã vẫn còn 276 hộ nghèo đa chiều.
Nhưng những tín hiệu tích cực từ các mô hình sản xuất mới, đạt hiệu quả cho thấy hướng đi đang đúng đắn. Bởi vậy, giai đoạn tới, địa phương đặt mục tiêu bứt phá phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu trở thành xã trung bình của tỉnh.
“Điều này sẽ sớm thành hiện thực, bởi luôn có sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân; cùng đó, không ít những ngọn “đuốc sáng” không ngại rủi ro, đã và đang mở hướng làm giàu, chung sức xây dựng buôn làng”, ông Vinh bày tỏ.
![]() |
| Chị Kơ Liêng K’Ơn - Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Đam Rông 4 tiên phong đưa con tằm về buôn làng. Ảnh: ĐL |
Tiên phong đưa con tằm về buôn làng
Đó là câu chuyện về người phụ nữ mạnh dạn, vượt qua chính bản thân mình để thay đổi tập quán canh tác, mang lại ấm no cho đồng bào dân tộc K’Ho ở buôn Cheng, xã Đam Rông 4.
Chị Kơ Liêng K’Ơn - Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã – người phụ nữ tiên phong mở hướng, chuyển đổi sang trồng dâu và nuôi tằm.
Chị K’Ơn cho biết, từ xa xưa, cây trồng chủ lực của bà con ở đây vốn là cà phê, điều và lúa, mỗi năm chỉ một vụ thu hoạch. Cùng với đó, tập quán canh tác truyền thống phụ thuộc vào thiên nhiên, cho năng suất thấp, kém hiệu quả, khiến đời sống người dân quanh năm túng đói, nhất là mỗi mùa “giáp hạt”. Chị luôn đau đáu: “Bằng cách nào để thoát khỏi đói, nghèo từ chính mảnh đất của ông cha mình”.
Những kiến thức học được sau lớp tập huấn nghề trồng dâu nuôi tằm đã thôi thúc chị K’Ơn vượt ra khỏi cái ranh giới tập quán canh tác truyền thống của buôn làng; mạnh dạn chuyển 2.000 m² đất trồng lúa sang trồng cây dâu cao sản.
Chị K’Ơn nhớ lại, khi đó rất bỡ ngỡ với kỹ thuật trồng, bón phân và chăm sóc để cây dâu phát triển tốt. Chị “dò dẫm”, tìm tòi kiến thức được tập huấn, dành thời gian tham quan, học hỏi ở các địa phương khác, ở sách, báo, mạng Internet…
Rồi lứa dâu đầu tiên cũng đến ngày được thu hoạch trong niềm vui mừng khôn xiết, vỡ òa của chị K’Ơn cùng người dân buôn Cheng. Sản lượng dâu cũng tăng dần, tạo động lực để chị K’Ơn đầu tư giàn sắt, né gỗ, quyết tâm nuôi tằm tại nhà. Chị K’ơn trở thành người phụ nữ K’Ho tiên phong đưa con tằm về buôn Cheng.
Hiện gia đình chị nuôi đều mỗi tháng hai lứa, mỗi lứa thu hoạch 40-50 kg kén, với giá ổn định khoảng 200.000 đồng/kg, giúp thu nhập ổn định, kinh tế ngày càng phát triển.
Sự tiên phong thay đổi lối canh tác, mang lại hiệu quả của chị K’Ơn đã trở thành hình mẫu cho người dân buôn Cheng noi theo. Chị cũng được xem là “kỹ sư” của buôn làng, trực tiếp hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật “cầm tay chỉ việc”; nhiều người ở buôn làng dần quen với trồng dâu, nuôi tằm, thoát cảnh đói, nghèo từ nghề này.
![]() |
| Ông Ka Son Ha Đông ở thôn 1, xã Đam Rông 4 không ngại rủi ro, mở hướng làm giàu cho buôn làng. Ảnh: ĐL |
Không ngại rủi ro, mở hướng làm giàu
Đó còn là câu chuyện về tư duy đổi mới, không ngại rủi ro để bứt phá vươn lên làm giàu từ mô hình canh tác mới trên chính nương rẫy kém hiệu quả xưa kia của gia đình mình.
Ông Ka Son Ha Đông ở thôn 1, xã Đam Rông 4 cho biết, gần 10 năm trước, khi nhiều hộ dân vẫn “loay hoay” với các giống cây trồng truyền thống, giá trị kinh tế không cao, ông đã mạnh dạn đưa 50 gốc sầu riêng Ri6 vào trồng thử nghiệm trong vườn cà phê.
Ông Ha Đông kể lại, thời gian đầu gặp nhiều khó khăn, bởi ông chưa nắm chắc kỹ thuật chăm sóc, nên cây phát triển chậm, sản lượng thu hoạch mỗi năm cũng chẳng đáng là bao.
Không cam chịu bỏ cuộc, bằng sự kiên trì, chịu khó học hỏi, ông Ha Đông đã tìm ra được kỹ thuật chăm sóc phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu ở đây; vườn sầu riêng của ông vì thế mà ngày càng phát triển. Đến nay, hơn 600 gốc sầu riêng các loại đã vươn mình, tỏa bóng trên diện tích 4ha cà phê. Vụ thu hoạch vừa qua đã đem đến cho gia đình ông Ha Đông niềm vui lớn với sản lượng gần 20 tấn quả sầu riêng, thu về gần 800 triệu đồng.
Ông Ha Đông cũng không ngần ngại chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật để nhiều hộ gia đình ở địa phương thành công với mô hình trồng sầu riêng xen cà phê, đời sống ngày càng được cải thiện hơn. Ông bảo rằng: “Mình đã tìm được con đường mới tốt hơn thì chỉ dẫn để bà con trong buôn cùng đi, tránh được cái rủi ro, rút ngắn được thời gian mà đi lên, làm giàu từ chính đôi bàn tay, mảnh đất của mình”.
“Ông Ha Đông không chỉ tạo thu nhập cao cho gia đình, mà còn giúp người dân địa phương thay đổi cách nghĩ, cách làm - một điểm sáng, lan tỏa mạnh mẽ về tính kiên trì, dám nghĩ dám làm, ham học hỏi để thay đổi diện mạo nông thôn”, ông Trần Phú Vinh khẳng định.
![]() |
| Phục dựng Lễ cúng Bến nước của buôn làng người M'nông ở xã Đam Rông 4. Ảnh:ĐL |
Nâng tầm văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch
Bí thư Đảng ủy xã Đam Rông 4 - ông Trần Phú Vinh còn cho biết, địa phương có hơn 93% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là M’nông, K’ho. Với di sản văn hóa phong phú, đặc sắc: Cồng chiêng, múa xoang; cùng nhiều cảnh vật thiên nhiên đặc biệt: Suối khoáng nóng Daana, Ruộng bậc thang, Thủy điện K’rông Nô…là một tiềm năng lớn phát triển kinh tế du lịch.
Theo ông Vinh, địa phương này đang tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông. Tới đây, khi các tuyến đường kết nối giữa địa phương này với tỉnh Đắk Lắk, Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng, nơi đây sẽ là điểm đến thu hút, níu giữ khách du lịch.
Sẵn sàng cho điều này, thời gian qua, xã đã sưu tầm, phục dựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống, là bản sắc của đồng bào các dân tộc như lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, ẩm thực cồng chiêng, múa xoang...
“Nếu những người lớn tuổi tham gia với mong muốn trao truyền, bảo tồn di sản văn hóa; thì không ít bạn trẻ tham gia với niềm đam mê, khát vọng đưa văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch, làm giàu cho buôn làng”, ông Vinh nhấn mạnh.
Chị Bon Jrang Ka Sinh – thôn Liêng Trang 1, xã Đam Rông 4 là một trong số những người trẻ như thế; chị phấn khởi cho biết, đội cồng chiêng và múa xoang của thôn hiện có 30 thành viên, duy trì tập luyện thường xuyên.
Khi nhận thấy giá trị đặc sắc từ điệu xoang truyền thống, chị đã kêu gọi lớp trẻ và thành lập nhóm múa. Bên cạnh việc tìm đến người lớn tuổi để tìm hiểu ý nghĩa từng bài múa, chị còn sáng tạo thêm các động tác gần gũi với đời sống thường ngày, phù hợp với lứa tuổi trẻ. Từ niềm yêu thích múa xoang, nay chị Ka Sinh đã trở thành người biên tập, dàn dựng các bài múa của đội múa xoang ở đây.
Không chỉ biểu diễn trong những dịp Lễ cầu mùa, Lễ cúng bến nước, Lễ cưới, Lễ mừng nhà mới… của người M’Nông ở địa phương; đội cồng chiêng và múa xoang của thôn Liêng Trang 1 còn vinh dự được tham gia Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025 do tỉnh Lâm Đồng tổ chức hồi cuối năm 2025 vừa qua.
Trở về từ lễ hội này, chị Ka Sinh chia sẻ điều mong ước của mình: “Trước mắt, tập luyện Cồng chiêng, múa xoang nhằm bảo tồn di sản văn hóa; khi biểu diễn tốt thì văn hóa bản địa sẽ trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng phục vụ du khách, phát triển kinh tế từ chính nét văn hóa của buôn làng”.
![]() |
| Nghệ nhân Ntơr Ha Bang – thôn Liêng Trang, xã Đam Rông 4 bảo tồn, trao truyền cho lớp trẻ để nghề đan lát tre nứa mãi sống cùng cuộc sống hiện đại, phục vụ phát triển du lịch ở buôn làng. Ảnh: ĐL |
Cùng ý tưởng của chị Ka Sinh, với nghệ nhân Ntơr Ha Bang – thôn Liêng Trang, xã Đam Rông 4 - vẫn lặng lẽ gắn bó với nghề đan lát, cần mẫn gìn giữ một nghề truyền thống của người K’ho nơi đây trường tồn cùng nhịp sống hiện đại.
Ông Ha Bang bảo rằng, không biết nghề đan lát có từ khi nào, chỉ biết khi sinh ra đã thấy ông bà, cha mẹ làm gùi lên nương, làm đơm, đó bắt cá, làm chụp bắt mối... Có lẽ, nghề đan lát đã đi cùng đời sống của người K’ho từ ngàn đời.
Là một trong số ít nghệ nhân còn sống cùng với đan lát, ở tuổi ngoài 60, đôi tay ông Ha Bang thoăn thoắt với từng lát chẻ nan, từng đường đan đều đặn, nhuần nhuyễn; thành thạo đan lát từ những vật dụng giản dị phục vụ sản xuất, sinh hoạt đến những món đồ trang trọng trong nghi lễ tín ngưỡng.
Ông cũng là người K’ho hiếm hoi tạo tác được hoa văn, họa tiết trực tiếp bằng nan tre, nứa trên sản phẩm. Với ông, đan lát không chỉ là một nghề mà còn là nghệ thuật, là cách lưu giữ văn hóa. Bởi vậy, mỗi họa tiết ông làm đều mang ý nghĩa, khi là hình ảnh cách điệu của núi rừng, muông thú, có lúc lại là những biểu tượng, hình khối, là thế giới quan của con người với vạn vật, với niềm tin, nguyện cầu, ước muốn.
Ông Ha Bang còn là người được buôn làng tin tưởng giao nhiệm vụ chạm khắc cây nêu; mỗi lễ hội ông cặm cụi gọt đẽo, dựng cây nêu 3 tầng bằng nhiệt tâm, sự cầu kỳ và cả sự thấu hiểu của người “giữ hồn” cho buôn làng.
Mỗi dịp này ông Ha Bang luôn tận tình giảng giải, hướng dẫn để lớp trẻ trong thôn hiểu ý nghĩa và tham gia học nghề đan lát tre nứa, chạm khắc cây nêu của người K’ho.
“Bây giờ có nhiều chất liệu nhựa, kim loại thay cho tre, nứa trong đời sống hằng ngày. Công việc đan lát thu nhập không nhiều, nhưng tôi giữ nghề và trao truyền cho lớp trẻ để sản phẩm của ông cha mãi sống cùng cuộc sống hiện đại, phục vụ phát triển du lịch ở địa phương”, ông Ha Bang bày tỏ mong ước của mình.
![]() |
| Ngày nay, buôn làng ở Đam Rông 4 đã chuyển mình, nhà cửa khang trang, sạch đẹp, cuộc sống người dân không chỉ đã no đủ, mà đang hướng tới sự phát triển mạnh mẽ. Ảnh: ĐL |
Gác lại nỗi niềm riêng, chung sức cùng buôn làng
Già làng Cil Nếu – xã Đam Rông 4 thì nhớ lại, vùng Đầm Ròn xưa kia (nay là xã Đam Rông 4) từng là vùng đất biệt lập giữa rừng thẳm. Để ra khỏi buôn làng, người dân phải băng đồi vượt dốc Đưng K’Nớ đến Cổng Trời, suối Cạn về huyện Lạc Dương (cũ), hoặc bơi qua sông Krông Nô sang Đắk Lắk. Chính sự biệt lập này khiến đời sống người dân luôn khó khăn.
“Ngày nay, đường xá đi lại đã thông thương, rộng rãi, buôn làng đã chuyển mình, nhà cửa khang trang, sạch đẹp, cuộc sống người dân không chỉ đã no đủ, mà đang hướng tới sự phát triển mạnh mẽ”, già làng Cil Nếu phấn khởi cho biết.
Theo già làng Cil Nếu, sự thay đổi tốt đẹp này chính là kết quả của ý Đảng hợp với lòng dân, tạo nên sự đồng thuận, khát vọng vươn lên mỗi ngày của đồng bào các dân tộc chung sống trên mảnh đất này; cùng vượt qua những cách trở bởi địa hình, địa lý, khắc nghiệt của thời tiết, thiên nhiên để bứt phá, đi lên.
Suốt chặng đường ấy, điều mà già làng Cil Nếu từng chứng kiến và cảm nhận rõ nhất, đó là sự đồng hành của các dân tộc anh em khác, đến từ mọi miền của tổ quốc, họ đã giành trọn tình yêu thương, gắn bó với mảnh đất này.
Già làng Cil Nếu nhắc đến người thầy giáo Nguyễn Hồng Dự - một Hiệu trưởng mẫn cán, hết lòng thương yêu học trò. Hơn 3 thập kỷ qua, thầy Dự gắn bó với trường lớp ở đây, từ khi chỉ là chàng sinh viên trẻ (quê Hưng Yên) được tăng cường đến vùng khó khăn, nay tóc đã bạc phần nhiều. Và người đồng nghiệp trẻ ngày ấy (quê Thanh Hóa), nay là bạn đời của thầy Dự - cô giáo Nguyễn Thị Lĩnh cũng “nặng lòng” với trẻ mầm non nên cùng chồng quyết định bám trụ ở nơi này.
Còn biết bao “tấm gương” khác nữa, Bí Thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã – ông Trần Phú Vinh; Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã – ông Khổng Hữu Kiên; hay ông Hoàng Mạnh Huỳnh - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã… Người ít thì cũng trên 20 năm, có người đã ngót 30 năm đồng hành cùng đồng bào các dân tộc ở địa phương này.
“Mỗi người đến từ một quê, mỗi người một hoàn cảnh, họ đã trải qua những cương vị công tác khác nhau; cũng không ít lần cơ hội đến với mỗi người để có thể chuyển đến những nơi thuận lợi, điều kiện sống, làm việc tốt hơn, nhưng họ đã gác lại nỗi niềm riêng, chung sức cùng buôn làng hướng về một tương lai tươi sáng”, già làng Cil Nếu bày tỏ.
Tin mới hơn
Niềm vui đến cùng mái ấm
Xuân về bên những mái ấm nghĩa tình
Cùng nông dân xuống đồng đầu xuân – “Bức họa” hoàn mĩ về dân vận khéo ở Lâm Đồng
Tin tức khác
Sắc xuân vùng phên dậu bên dòng Sê Pôn
GS.TSKH Đinh Dũng: “Khoa học không thể chạy theo phong trào, càng không thể trông chờ phép màu”
An sinh xã hội trong kỷ nguyên số: Khi chính sách tiến nhanh, liệu có ai bị bỏ lại phía sau?
Chặt chẽ, dân chủ trong tổ chức hội nghị cử tri
Thành phố Huế: Phát huy vai trò Mặt trận trong lựa chọn Đại biểu Quốc hội





