Theo quy định tại Điều 38 của Luật, người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp khi đáp ứng đủ bốn điều kiện cơ bản.
Trước hết, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đúng quy định pháp luật. Những trường hợp đơn phương nghỉ việc trái pháp luật hoặc nghỉ việc khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu sẽ không thuộc diện được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đây là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo chính sách hỗ trợ đúng đối tượng.
Thứ hai, người lao động cần có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ điều kiện. Cụ thể, phải đóng từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi nghỉ việc đối với hợp đồng lao động dài hạn. Đối với người làm việc theo hợp đồng từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, yêu cầu là đã đóng đủ 12 tháng trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng. Quy định này nhằm ghi nhận quá trình tham gia thực tế của người lao động vào quỹ bảo hiểm.
Thứ ba, người lao động phải nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Nếu quá thời hạn này, quyền lợi có thể không được giải quyết, do đó người lao động cần chủ động thực hiện sớm để tránh bị gián đoạn hỗ trợ.
Thứ tư, sau khi nộp hồ sơ, trong vòng 10 ngày làm việc, người lao động không được rơi vào các trường hợp như đã có việc làm mới thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; thực hiện nghĩa vụ quân sự, công an; đi học dài hạn; chấp hành án phạt tù; ra nước ngoài định cư hoặc các trường hợp đặc biệt khác. Điều kiện này nhằm xác định rõ tình trạng thất nghiệp thực tế của người lao động.
![]() |
| Từ ngày 1.1.2026, Luật Việc làm năm 2025 chính thức có hiệu lực với nhiều quy định mới liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp. Ảnh minh họa. |
Bên cạnh điều kiện hưởng, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo Điều 39 của Luật, mức trợ cấp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc. Tuy nhiên, mức hưởng tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng, nhằm đảm bảo cân đối quỹ và công bằng giữa các đối tượng.
Về thời gian hưởng, cứ đóng đủ từ 12 tháng đến 36 tháng, người lao động sẽ được hưởng 3 tháng trợ cấp. Sau đó, cứ thêm mỗi 12 tháng đóng bảo hiểm, người lao động được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, nhưng tổng thời gian hưởng không quá 12 tháng. Đây là quy định giúp gắn quyền lợi với thời gian đóng góp thực tế.
Thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc thứ 11 kể từ khi người lao động nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định này giúp rút ngắn thời gian chờ đợi, tạo điều kiện để người lao động sớm ổn định cuộc sống.
Không chỉ dừng lại ở khoản tiền trợ cấp, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Chi phí này do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người lao động tiếp tục được chăm sóc sức khỏe trong thời gian chưa có việc làm.
Tuy nhiên, để duy trì quyền lợi, người lao động cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trong đó có việc thông báo tình trạng tìm kiếm việc làm hằng tháng. Nếu không thực hiện, trợ cấp thất nghiệp có thể bị tạm dừng, dù quyền lợi bảo hiểm y tế vẫn được giữ nguyên trong thời gian đó.
Những quy định mới từ năm 2026 cho thấy chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngày càng hoàn thiện theo hướng minh bạch, chặt chẽ và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động. Việc chủ động nắm bắt thông tin và thực hiện đúng quy định sẽ giúp người lao động tận dụng hiệu quả “tấm đệm an sinh” quan trọng này khi gặp rủi ro về việc làm.
*Nghe Podcast Điểm tin Mặt trận và Đoàn thể ngày 28.3.2026
Tin tức khác
Hỗ trợ học nghề cho người lao động: Đảm bảo chi trả kịp thời, đúng quyền lợi từ năm 2026
Nhiều thay đổi quan trọng về bảo hiểm y tế từ năm 2026, người lao động cần nắm rõ
Người lao động sắp nghỉ việc, cần biết gì về chính sách bảo hiểm thất nghiệp mới?
Trước khi nghỉ việc, người lao động cần biết gì về bảo hiểm thất nghiệp?
Mở rộng quyền kinh doanh cho viên chức, cần hiểu rõ để thực hiện đúng
