| Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng tiếp cận và thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội của công nhân và người lao động thu nhập thấp tại Việt Nam. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát và tổng hợp số liệu từ các cơ quan quản lý, nghiên cứu cho thấy mặc dù nhu cầu nhà ở của người lao động tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng gia tăng, khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách vẫn còn hạn chế. Nguồn cung nhà ở xã hội chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, trong khi điều kiện tiếp cận, thủ tục hành chính và khả năng tài chính của người lao động vẫn là những rào cản đáng kể. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra một số điểm nghẽn trong quá trình triển khai và gợi mở những vấn đề cần quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách nhà ở xã hội trong thời gian tới. Từ khóa: Nhà ở xã hội; công nhân lao động; người thu nhập thấp; tiếp cận và thụ hưởng chính sách; an sinh xã hội. |
![]() |
| Khu nhà ở xã hội dành cho công nhân (nhà ở công nhân) thuộc phường Nội Hoàng (tỉnh Bắc Ninh) do liên danh Công ty Cổ phần phát triển Fuji Bắc Giang – Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Vinaco làm chủ đầu tư. Ảnh: Vân Trường. |
1. Mở đầu
Trong bối cảnh quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu về nhà ở của công nhân và người thu nhập thấp tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự gia tăng nhanh của lực lượng lao động di cư, cùng với áp lực về chi phí sinh hoạt và giá nhà ở tại các đô thị lớn, đã đặt ra yêu cầu phát triển các mô hình nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người lao động.
Nhận thức rõ vai trò của nhà ở trong bảo đảm an sinh xã hội và ổn định lực lượng lao động. Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nhà ở xã hội.
Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng đã được ban hành, đặc biệt với việc thông qua Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 100/2024/NĐ-CP, Thông tư 32/2025/TT-BXD, Thông tư 08/2026/TT-BXD, Thông tư 32/2025/TT-BXD… tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng đối tượng thụ hưởng, thúc đẩy phát triển nguồn cung và hoàn thiện cơ chế quản lý.
Chính phủ cũng triển khai Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021–2030 nhằm gia tăng quỹ nhà ở dành cho công nhân và người thu nhập thấp trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy việc tiếp cận và thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội của người lao động vẫn có những khoảng cách nhất định so với mục tiêu đặt ra.
Trong khi khung chính sách ngày càng được hoàn thiện và nguồn cung nhà ở xã hội từng bước được mở rộng, khả năng tiếp cận thông tin, điều kiện tham gia và mức độ thụ hưởng thực tế của công nhân và người thu nhập thấp vẫn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thu nhập, đặc điểm việc làm, thủ tục xét duyệt và sự phân bố các dự án tại từng địa phương.
Trong khi nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh chính sách và nguồn cung dự án, việc phân tích từ góc nhìn của người lao động đặc biệt là khả năng tiếp cận và mức độ thụ hưởng thực tế vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết xem xét những tiến bộ trong khung chính sách nhà ở xã hội, đồng thời phân tích thực trạng tiếp cận và thụ hưởng của công nhân, người thu nhập thấp nhằm nhận diện các điểm nghẽn còn tồn tại trong quá trình triển khai.
2. Những tiến bộ đáng ghi nhận trong chính sách nhà ở xã hội
2.1. Hoàn thiện khung pháp lý và cải cách thủ tục tiếp cận
Một bước tiến quan trọng của chính sách nhà ở xã hội trong những năm gần đây là việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đồng bộ và minh bạch hơn. Việc Quốc hội thông qua Luật Nhà ở 2023 thay thế Luật Nhà ở 2014 được xem là dấu mốc quan trọng trong quá trình điều chỉnh chính sách.
![]() |
| Lối vào khu trọ công nhân ở gần Khu công nghiệp Thăng Long (Hà Nội) tối đen, thiếu ánh sáng dù đang là ban ngày. Ảnh: Minh Hương. |
Nếu như giai đoạn trước, chính sách chủ yếu dựa vào các cơ chế khuyến khích thông qua ưu đãi về đất đai, tín dụng và thuế đối với chủ đầu tư, thì khung pháp lý mới không chỉ duy trì các cơ chế ưu đãi về đất đai, tín dụng và thuế đối với chủ đầu tư mà còn quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong phát triển nhà ở xã hội.
Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, hệ thống quy định mới đã góp phần khắc phục tình trạng phân tán trước đây,chuẩn hóa quy trình xét duyệt và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục liên quan đến mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội.
Các quy định mới đã đơn giản hóa một số thủ tục xác nhận thu nhập và điều kiện nhà ở của người đăng ký, đồng thời quy định rõ thời hạn hiệu lực của hồ sơ nhằm hạn chế việc phải xác nhận lại nhiều lần. Những điều chỉnh này góp phần giảm chi phí tuân thủ và cải thiện khả năng tiếp cận chính sách của người lao động, đặc biệt là công nhân khu công nghiệp và người thu nhập thấp tại đô thị.
Bên cạnh cải cách thủ tục cho người thụ hưởng, khung pháp lý mới cũng điều chỉnh các quy định liên quan đến phát triển dự án nhà ở xã hội. Quy trình lựa chọn chủ đầu tư được quy định rõ hơn với các tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ phát triển nhà ở xã hội, trong khi các cơ chế ưu đãi về đất đai, tín dụng và thuế tiếp tục được duy trì nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Phạm vi đối tượng thụ hưởng cũng được xác định rõ và mở rộng hơn trong Luật Nhà ở 2023, bao gồm các nhóm như người thu nhập thấp tại đô thị, công nhân khu công nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Một số quy định mới còn bổ sung tiêu chí ưu tiên phù hợp với bối cảnh thực tiễn.
Chẳng hạn, Luật Dân số 2026 quy định ưu tiên đối với phụ nữ sinh đủ hai con hoặc gia đình có từ hai con trở lên khi tiếp cận nhà ở xã hội tại các địa phương có mức sinh thấp. Đồng thời, Nghị định 54/2026/NĐ-CP bổ sung nhóm hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nhưng chưa được bồi thường bằng nhà ở hoặc đất ở vào diện được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội.
Nhìn chung, việc hoàn thiện khung pháp lý và cải cách thủ tục hành chính đã tạo nền tảng thể chế rõ ràng hơn cho phát triển nhà ở xã hội. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Xây dựng, hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào năng lực triển khaicủa địa phương và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
2.2. Hoàn thiện cơ chế tài chính và tín dụng ưu đãi
Nguồn lực tài chính là một trong những điều kiện then chốt quyết định khả năng triển khai hiệu quả chính sách nhà ở xã hội. Trong nhiều năm, việc thiếu các nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp đã trở thành rào cản đáng kể đối với cả doanh nghiệp phát triển dự án và người lao động có nhu cầu tiếp cận nhà ở.
Nhằm khắc phục hạn chế này, Chính phủ đã triển khai các chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho lĩnh vực nhà ở xã hội, trong đó đáng chú ý là gói tín dụng khoảng 120.000 tỷ đồng theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khác với các chương trình trước đây chủ yếu hỗ trợ phía cung, cơ chế tín dụng mới được thiết kế theo hướng hỗ trợ đồng thời cả chủ đầu tư dự án và người mua nhà.
Thông qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội, lãi suất cho vay mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội được duy trì ở mức thấp hơn so với mặt bằng lãi suất thương mại, với thời hạn vay dài hạn. Điều này góp phần giảm áp lực tài chính và cải thiện khả năng tiếp cận nhà ở của các hộ gia đình có thu nhập trung bình và thấp.
Bên cạnh đó, các tiêu chí về thu nhập và điều kiện tiếp cận vốn cũng được quy định rõ ràng hơn, góp phần tăng tính minh bạch trong quá trình xét duyệt và hạn chế sự khác biệt trong áp dụng chính sách giữa các địa phương. Những điều chỉnh này
cho thấy cơ chế tài chính của chính sách nhà ở xã hội đang từng bước được hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng tiếp cận của người dân, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nguồn cung nhà ở phù hợp với nhu cầu thực tế.
2.3. Tăng cường trách nhiệm của địa phương và các chủ thể tham gia
Một tiến bộ đáng chú ý khác trong chính sách nhà ở xã hội là việc xác định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quá trình phát triển và quản lý loại hình nhà ở này. Các quy định mới của Luật Nhà ở 2023 đã đặt ra yêu cầu cụ thể đối với chính quyền địa phương trong việc bố trí quỹ đất, lập kế hoạch phát triển và công khai danh mục dự án nhà ở xã hội trên địa bàn.
![]() |
| Nhiều công nhân đang sinh sống tại các phòng trọ chật hẹp mong muốn mua được nhà ở xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống. Ảnh: Mỹ Ly. |
Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tích hợp mục tiêu phát triển nhà ở xã hội vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đồng thời bố trí quỹ đất phù hợp để triển khai các dự án. Việc gắn chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội với quy hoạch đô thị giúp bảo đảm quỹ đất cho loại hình nhà ở này được tính toán ngay từ giai đoạn quy hoạch.
Bên cạnh trách nhiệm của địa phương, các quy định mới cũng làm rõ nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phát triển nhà ở xã hội. Đối với các dự án nhà ở thương mại, chủ đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ dành một phần quỹ đất hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính tương đương để phát triển nhà ở xã hội theo quy định. Quy định này nhằm bảo đảm sự cân đối giữa nhà ở thương mại và nhà ở an sinh trong quá trình phát triển đô thị.
Ngoài ra, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thẩm định, phê duyệt và giám sát quá trình triển khai dự án cũng được quy định cụ thể hơn, từ khâu xác nhận đối tượng thụ hưởng, xét duyệt danh sách người mua cho đến việc kiểm tra nghĩa vụ của chủ đầu tư.
Nhìn chung, việc phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cơ quan quản lý đã góp phần tạo lập khuôn khổ thực thi minh bạch hơn cho chính sách nhà ở xã hội. Khi vai trò của các chủ thể được xác định cụ thể và gắn với cơ chế giám sát rõ ràng, khả năng triển khai chính sách trong thực tiễn cũng được tăng cường.
3. Thực trạng tình hình tiếp cận, thụ hưởng của công nhân lao động, người thu nhập thấp
Trong những năm gần đây, hệ thống chính sách về nhà ở xã hội tại Việt Nam đã có những bước hoàn thiện quan trọng. Đáng chú ý là việc ban hành Luật Nhà ở 2023 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định 100/2024/NĐ-CP, đã bổ sung nhiều cơ chế ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển loại hình nhà ở này.
![]() |
| Dự án nhà ở xã hội tại ô đất NO1 khu đô thị mới Hạ Đình do liên danh Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC), Công ty cổ phần Xây dựng lắp máy điện nước Hà Nội Haweicco, Công ty cổ phần Kinh doanh và phát triển nhà DAC Hà Nội làm chủ đầu tư. |
Các chính sách bao gồm miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích dự án nhà ở xã hội; ưu đãi về thuế và tín dụng; đồng thời yêu cầu các dự án nhà ở thương mại tại các đô thị từ loại đặc biệt đến loại III phải bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính tương đương.
Ở tầm chiến lược, Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021–2030 theo Quyết định 338/QĐ-TTg. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, nhu cầu nhà ở xã hội của công nhân và người thu nhập thấp tại các đô thị và khu công nghiệp hiện nay rất lớn, đặc biệt tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.
Tuy nhiên, khi đối chiếu giữa khuôn khổ chính sách và thực tiễn triển khai, nhiều nghiên cứu cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa khả năng tiếp cận chính sách theo quy định và mức độ thụ hưởng thực tế của người lao động.
3.1. Thực trạng tiếp cận thông tin chính sách nhà ở xã hội
Theo kết quả “Điều tra, khảo sát tình hình tiếp cận, thụ hưởng và phản hồi chính sách của công nhân, viên chức, lao động năm 2025” do Viện Chiến lược và Chính sách thực hiện với 7.450 người lao động tại 14 tỉnh, thành phố và 2 công đoàn ngành (TP. Hà Nội, TP. Hải Phòng, Bắc Ninh, Phú Thọ, Ninh Bình, Công đoàn Công thương Việt Nam, Công đoàn Xây dựng Việt Nam; TP. Đà Nẵng, Nghệ An, Thanh Hóa, Lâm Đồng; TP. Hồ Chí Minh, TP. Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang; CĐ Xây dựng Việt Nam, CĐ Công thương Việt Nam), cho thấy có khoảng 79,2% người lao động cho biết đã từng nghe nói về chính sách nhà ở xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn 15,6% chưa từng nghe và 5,2% không quan tâm đến chính sách này.
Điều này cho thấy, dù chính sách đã được triển khai trong nhiều năm và được xác định là một trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, vẫn còn một bộ phận đáng kể người lao động chưa tiếp cận được những thông tin cơ bản liên quan đến quyền lợi nhà ở của mình.
Sự khác biệt trong khả năng tiếp cận thông tin thể hiện khá rõ giữa các nhóm lao động. Nhóm lao động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có tỷ lệ tiếp cận tương đối cao, lần lượt đạt 76,7% và 78,7%, song vẫn còn khoảng 17,3% và 16,2% chưa từng nghe đến chính sách này.
Sự chênh lệch này phản ánh một đặc điểm mang tính cấu trúc của thị trường lao động Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2025 lực lượng lao động của cả nước đạt khoảng 53,5 triệu người, trong đó phần lớn làm việc trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, tập trung tại các khu công nghiệp và khu chế xuất. Nhiều công nhân là lao động di cư, điều kiện sinh hoạt còn hạn chế và thời gian tìm hiểu thông tin chính sách không nhiều, nên việc tiếp cận thông tin về nhà ở xã hội chủ yếu phụ thuộc vào các kênh trung gian như doanh nghiệp hoặc công đoàn cơ sở.
Các báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng cho thấy nhu cầu nhà ở của công nhân, đặc biệt là công nhân di cư rất lớn nhưng nhiều người vẫn thiếu thông tin đầy đủ về điều kiện, thủ tục và các dự án nhà ở xã hội tại địa phương nơi làm việc.
Như vậy, mặc dù chính sách nhà ở xã hội đã được xác định là một trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, khả năng tiếp cận thông tin của người lao động vẫn còn phụ thuộc đáng kể vào môi trường làm việc và mức độ tổ chức của doanh nghiệp. Khoảng cách thông tin này không chỉ làm giảm khả năng tiếp cận chính sách của một bộ phận người lao động mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai chính sách nhà ở xã hội trên thực tế.
3.2. Thực trạng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội
Bên cạnh khả năng tiếp cận thông tin, mức độ thụ hưởng chính sách trên thực tế là chỉ báo quan trọng phản ánh hiệu quả triển khai chính sách nhà ở xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ khoảng 8,3% người lao động đã từng thụ hưởng các chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, trong khi 75,3% chưa từng tiếp cận và 16,4% cho biết không thuộc đối tượng được hưởng các ưu đãi này. Những con số này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nhu cầu nhà ở thực tế của người lao động với khả năng tiếp cận và thụ hưởng các chính sách hỗ trợ hiện hành.
![]() |
| Công nhân Công ty Chang Sin Việt Nam (KCN Thạnh Phú, tỉnh Đồng Nai) trong giờ làm việc. Ảnh: Thiên Lý. |
Sự khác biệt trong mức độ thụ hưởng thể hiện rõ giữa các nhóm lao động. Lao động trong doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa có tỷ lệ đã từng tiếp cận chính sách cao nhất (10,5%), trong khi lao động doanh nghiệp tư nhân đạt khoảng 9,5%.
Đáng chú ý, lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có tỷ lệ thụ hưởng thấp nhất, chỉ khoảng 5,0%, trong khi 85,1% cho biết chưa từng tiếp cận chính sách. Đây là nhóm lao động tập trung đông tại các khu công nghiệp, phần lớn là công nhân trẻ làm việc xa quê và có nhu cầu ổn định nơi ở lâu dài. Tuy nhiên, thực tế khảo sát cho thấy khả năng tiếp cận nhà ở xã hội của nhóm này vẫn còn khá hạn chế so với nhu cầu thực tế.
Ở góc độ quản lý Nhà nước, các báo cáo của Bộ Xây dựng cũng cho thấy nguồn cung nhà ở xã hội tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Theo báo cáo đánh giá tình hình phát triển nhà ở xã hội 7 tháng đầu năm 2025, tính đến 31.7.2025, cả nước có 692 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai với quy mô 633.559 căn hộ, trong đó 146 dự án đã hoàn thành với 103.717 căn, 124 dự án đang xây dựng với 111.622 căn, và 422 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư. Quy mô này mới đạt khoảng 59,6% mục tiêu của chương trình xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021–2030, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nguồn cung, nhu cầu thực tế của công nhân và người thu nhập thấp tại các đô thị và khu công nghiệp.
Từ những chỉ báo trên có thể thấy mức độ thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội của người lao động vẫn còn ở mức khiêm tốn. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm các điều kiện và thủ tục tiếp cận còn tương đối chặt chẽ, yêu cầu xác nhận đối tượng và chứng minh thu nhập, khả năng tài chính đối ứng của người lao động cũng như sự phân bố nguồn cung nhà ở xã hội chưa thực sự phù hợp với nhu cầu tại một số địa phương có đông công nhân.
Nhìn tổng thể, mặc dù khung chính sách nhà ở xã hội đã từng bước được hoàn thiện và nguồn cung dự án đang được mở rộng, khả năng tiếp cận và thụ hưởng của người lao động trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này cho thấy việc nâng cao hiệu quả thực thi chính sách nhà ở xã hội không chỉ phụ thuộc vào việc phát triển thêm các dự án mới, mà còn đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiếp cận và các điều kiện thụ hưởng theo hướng phù hợp hơn với điều kiện thực tế của người lao động, đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp và nhóm lao động có nhu cầu nhà ở cấp thiết.
3.3. Nguyên nhân những hạn chế trong tiếp cận và thụ hưởng chính sách
Kết quả khảo sát và thực tiễn triển khai cho thấy những hạn chế trong tiếp cận và thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội của công nhân, người lao động thu nhập thấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, liên quan đến cả điều kiện chính sách, cơ chế thực thi và khả năng đáp ứng của người lao động.
Thứ nhất, một số tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng vẫn còn tương đối chặt chẽ, như yêu cầu về tình trạng cư trú, điều kiện nhà ở hoặc các giấy tờ chứng minh thu nhập. Đối với nhiều công nhân lao động di cư làm việc tại các đô thị và khu công nghiệp, việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện này không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Thứ hai, quy trình và thủ tục tiếp cận chính sách ở một số nơi còn nhiều bước và cần nhiều loại giấy tờ xác nhận, khiến người lao động gặp khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ.
Thứ ba, Khả năng tài chính của người lao động cũng là một yếu tố quan trọng. Dù có các gói tín dụng ưu đãi, việc chuẩn bị khoản vốn đối ứng ban đầu và bảo đảm khả năng trả nợ dài hạn vẫn là thách thức đối với nhiều công nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp.
Thứ tư, nguồn cung nhà ở xã hội tại một số địa phương vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, đặc biệt tại các khu vực tập trung đông lao động. Đồng thời, công tác phổ biến thông tin chính sách chưa thực sự tiếp cận đầy đủ các nhóm lao động, khiến một bộ phận người lao động chưa nắm rõ điều kiện và thủ tục tham gia.
Những nguyên nhân này cho thấy các hạn chế trong tiếp cận và thụ hưởng nhà ở xã hội không chỉ xuất phát từ một yếu tố riêng lẻ mà là kết quả của nhiều rào cản đan xen trong quá trình triển khai chính sách.
4. Những điểm nghẽn
Mặc dù chính sách nhà ở xã hội trong thời gian qua đã từng bước được hoàn thiện, quá trình triển khai trên thực tế vẫn tồn tại một số điểm nghẽn khiến công nhân và người lao động thu nhập thấp khó tiếp cận và thụ hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ.
![]() |
| Người dân chen lấn, xô đẩy nộp hồ sơ tại một dự án nhà ở xã hội tại Hà Nội. Ảnh: Văn Hưng. |
Trước hết, nguồn cung nhà ở xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Số lượng dự án và căn hộ được xây dựng trong những năm gần đây đã tăng lên, song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với nhu cầu nhà ở của lực lượng lao động tại các đô thị và khu công nghiệp. Ở một số địa phương, việc bố trí quỹ đất, thu hút nhà đầu tư và tiến độ triển khai dự án còn chậm, làm hạn chế cơ hội tiếp cận của người lao động.
Thứ hai, thủ tục và điều kiện xác nhận đối tượng thụ hưởng còn tương đối phức tạp. Người lao động phải thực hiện nhiều bước xác nhận liên quan đến thu nhập, tình trạng nhà ở và cư trú, khiến quá trình hoàn thiện hồ sơ kéo dài và phát sinh nhiều khó khăn, đặc biệt đối với công nhân làm việc theo ca hoặc lao động di cư.
Thứ ba, khả năng tài chính của người lao động vẫn là một rào cản đáng kể. Mặc dù đã có các chương trình tín dụng ưu đãi, người mua nhà vẫn cần có khoản vốn đối ứng ban đầu và đảm bảo khả năng trả nợ trong thời gian dài. Với mức thu nhập còn hạn chế và chi phí sinh hoạt tại các đô thị ngày càng tăng, nhiều công nhân vẫn lựa chọn thuê trọ thay vì mua nhà.
Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận thông tin chính sách và sự phối hợp trong quá trình thực thi ở một số nơi còn chưa hiệu quả. Một bộ phận người lao động chưa nắm rõ điều kiện, thủ tục tham gia chương trình, trong khi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, ngân hàng và doanh nghiệp trong triển khai dự án nhà ở xã hội đôi khi còn thiếu đồng bộ.
Những điểm nghẽn này cho thấy việc nâng cao hiệu quả chính sách nhà ở xã hội không chỉ phụ thuộc vào việc hoàn thiện quy định, mà còn đòi hỏi cải thiện cơ chế tổ chức thực hiện, mở rộng nguồn cung và tạo điều kiện thuận lợi hơn để người lao động có thể tiếp cận và thụ hưởng chính sách trong thực tiễn.
5. Kết luận
Nhà ở xã hội là một trong những chính sách an sinh quan trọng nhằm cải thiện điều kiện sống và bảo đảm ổn định đời sống cho công nhân và người lao động thu nhập thấp, đặc biệt tại các đô thị và khu công nghiệp.
Trong bối cảnh quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu nhà ở của lực lượng lao động dự báo sẽ còn gia tăng trong những năm tới. Việc Nhà nước từng bước hoàn thiện khung pháp lý, ban hành nhiều cơ chế ưu đãi và triển khai các chương trình phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn cho thấy định hướng rõ ràng trong việc coi nhà ở là một cấu phần quan trọng của hệ thống an sinh xã hội và phát triển thị trường lao động bền vững.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát và thực tiễn triển khai cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa mục tiêu chính sách và khả năng tiếp cận, thụ hưởng của người lao động. Những hạn chế về nguồn cung, thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận, khả năng tài chính cũng như mức độ phổ biến thông tin chính sách đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi trong thực tế.
Trong thời gian tới, cùng với việc tiếp tục mở rộng nguồn cung nhà ở xã hội, cần chú trọng cải thiện khả năng tiếp cận thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng phạm vi bao phủ đối tượng thụ hưởng và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức liên quan trong quá trình triển khai. Những điều chỉnh theo hướng này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách nhà ở xã hội, đồng thời tạo nền tảng ổn định hơn cho lực lượng lao động – yếu tố then chốt đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Xây dựng (2025), Báo cáo đánh giá tình hình phát triển nhà ở xã hội 7 tháng đầu năm 2025 và kế hoạch 5 tháng cuối năm 2025, Hà Nội.
2. Đài Tiếng nói Việt Nam (2026), Người bị thu hồi đất sẽ được mua nhà ở xã hội không cần xét thu nhập. Truy cập tại:https://vov.vn/kinh-te/nguoi-bi-thu-hoi-dat-se-duoc-mua-nha-o-xa-hoi-khong-can-xet-thu nhap-post1243192.vov
3. Luật Nhà ở 2023, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 27/11/2023.
4. Nghị định 100/2024/NĐ-CP của Chính phủ (2024), Quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, ban hành ngày 26/7/2024.
5. Nghị định 261/2025/NĐ-CP của Chính phủ (2025), quy định về một số cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
6. Thông tư 32/2025/TT-BXD của Bộ Xây dựng (2025), hướng dẫn một số nội dung về quản lý và phát triển nhà ở xã hội.
7. Thông tư 08/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng (2026), quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số nội dung về nhà ở xã hội.
8. Tổng cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. Truy cập tại: https://www.nso.gov.vn.
9. Viện Chiến lược và Chính sách (2025), Báo cáo “Điều tra, khảo sát tình hình tiếp cận, thụ hưởng và phản hồi chính sách của công nhân, viên chức, lao động năm 2025”, Hà Nội.
Tin tức khác
Đề xuất mô hình ứng dụng toán kinh tế và trí tuệ nhân tạo trong dự báo nhu cầu dịch vụ giáo dục tiểu học
Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp - xu hướng và giải pháp phát triển bền vững
Người giữ lửa đoàn kết ở Trường Tùng
Mặt trận Đà Nẵng khơi dậy sức dân vì môi trường xanh - sạch - đẹp
Người Cơ Tu duy nhất trúng cử đại biểu Quốc hội: Theo đến cùng kiến nghị của dân





