Chính phủ quyết định giữ nguyên mức đóng bảo hiểm y tế 4,5% lương cơ sở
Diễn đàn

Chính phủ quyết định giữ nguyên mức đóng bảo hiểm y tế 4,5% lương cơ sở

Phương Mai - Nguyễn Hằng
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 188/2025/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế. Theo đó, quyết định giữ nguyên mức đóng bảo hiểm y tế bằng 4,5% lương cơ sở như hiện hành.
Chế độ phụ cấp khu vực đối với người hưởng bảo hiểm xã hội

Mức đóng bảo hiểm y tế đối với các nhóm đối tượng

Theo Nghị định, Chính phủ quyết định giữ nguyên mức đóng bảo hiểm y tế bằng 4,5% lương cơ sở như hiện hành.

Thành viên hộ gia đình khi cùng tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức hộ gia đình trong năm tài chính, thì được giảm trừ mức đóng như sau:

Người thứ nhất đóng bằng 4,5% lương cơ sở, người thứ 2, 3, 4 đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất. Từ người thứ 5 trở đi, đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

Mức đóng do người sử dụng lao động đóng, hoặc người lao động đóng, hoặc cùng đóng như sau:

Nhóm đóng bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3, và người lao động đóng 1/3, bao gồm:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác, nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương.

2. Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam.

Trừ trường hợp là người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, hoặc tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động, hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên.

Kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác, nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên, thỏa thuận với người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng, hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

4. Cán bộ, công chức, viên chức.

Nhóm đóng bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, và do đối tượng đóng, bao gồm:

Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương.

Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo quy định của pháp luật, đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.

Công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ trong quân đội, công nhân công an đang công tác trong công an nhân dân; người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu quy định tại Luật Cơ yếu, mức đóng bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.

Đối với thân nhân của nhóm này, mức đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở, và do người sử dụng lao động của công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ trong quân đội, người sử dụng lao động của công nhân công an đang công tác trong công an nhân dân đóng.

Thân nhân của người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu theo quy định của pháp luật về cơ yếu, không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, mức đóng hằng tháng bằng 4,5% mức lương cơ sở, và do người sử dụng lao động của người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu theo quy định của pháp luật về cơ yếu đóng.

Người lao động là cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm đình chỉ chức vụ mà chưa bị xử lý kỷ luật, thì mức đóng hàng tháng bằng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động, của tháng liền kề trước khi bị tạm giam, tạm giữ, hoặc tạm đình chỉ theo quy định của pháp luật. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kết luận là không vi phạm pháp luật, người sử dụng lao động và người lao động phải truy đóng bảo hiểm y tế trên số tiền lương được truy lĩnh.

Nhóm do cơ quan Bảo hiểm xã hội đóng: Mức đóng bằng 4,5% tiền lương hưu hoặc mất sức lao động; 4,5% lương cơ sở hoặc 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp, tùy đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế.

Cụ thể, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, mức đóng bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động.

Người nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; người nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, hoặc người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; người nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, thì mức đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở.

Đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, mức đóng bằng 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp.

Nhóm do ngân sách nhà nước đóng: Mức đóng bằng 4,5% lương cơ sở.

Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng: Mức đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở, và được nhà nước hỗ trợ tùy đối tượng được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế.

Mức hỗ trợ ngân sách của Nhà nước

Hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế đối với: người thuộc hộ gia đình cận nghèo, đang cư trú trên địa bàn các xã nghèo theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, và các văn bản khác của các cơ quan có thẩm quyền.

Hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng bảo hiểm y tế đối với: người thuộc hộ gia đình cận nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các xã được xác định không còn thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Thời gian hỗ trợ 36 tháng kể từ thời điểm xã nơi đối tượng sinh sống không còn thuộc vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng đối với:

- Nạn nhân theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người. Thời gian hỗ trợ là 1 năm kể từ khi đối tượng được cơ quan có thẩm quyền xác nhận là nạn nhân, theo quy định của Luật phòng, chống mua bán người.

- Học sinh, sinh viên; Người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Nhân viên y tế thôn, bản; cô đỡ thôn, bản; Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật; Người được tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

Hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng đối với: Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của pháp luật.

Việc Chính phủ giữ nguyên mức đóng bảo hiểm y tế ở mức 4,5% lương cơ sở, cùng với các quy định chi tiết theo từng nhóm đối tượng, thể hiện sự nhất quán trong chính sách an sinh xã hội, đồng thời tạo điều kiện để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế trong toàn dân.

Tin mới hơn

Cải cách tiền lương 2026: Những thay đổi lớn với cán bộ, công chức, viên chức

Cải cách tiền lương 2026: Những thay đổi lớn với cán bộ, công chức, viên chức

Cải cách chính sách tiền lương trong khu vực công tiếp tục là vấn đề được đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và người lao động quan tâm. Khi lộ trình xây dựng 5 bảng lương mới và 9 chế độ phụ cấp mới được đặt ra theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW, nhiều câu hỏi xuất hiện, đặc biệt là việc bãi bỏ một số khoản phụ cấp quen thuộc liệu có làm thu nhập thực tế bị giảm hay không.
Chậm nhất 1.7.2026 phải hoàn thành xếp lương viên chức theo vị trí việc làm

Chậm nhất 1.7.2026 phải hoàn thành xếp lương viên chức theo vị trí việc làm

Việc xếp lương viên chức theo vị trí việc làm đang bước vào giai đoạn nước rút, với mốc thời gian chậm nhất là ngày 1.7 tới đây. Đây là yêu cầu quan trọng được nêu rõ trong Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức năm 2025, vừa được Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành, nhằm bảo đảm quyền lợi của viên chức, đồng thời thúc đẩy đổi mới quản lý đội ngũ trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều kiện hưởng BHXH một lần năm 2026: Hiểu đúng để không mất quyền lợi

Điều kiện hưởng BHXH một lần năm 2026: Hiểu đúng để không mất quyền lợi

Từ khi Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 có hiệu lực, nhiều người lao động vẫn băn khoăn, thậm chí hiểu lầm rằng quy định mới sẽ “siết” quyền rút BHXH một lần. Không ít ý kiến cho rằng, khi thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu giảm từ 20 năm xuống còn 15 năm thì người lao động đã đóng đủ hoặc vượt 15 năm sẽ không còn được rút BHXH một lần. Thực tế, cách hiểu này chưa chính xác và có thể khiến người lao động bỏ lỡ quyền lợi hợp pháp của mình.

Tin tức khác

Thu hồi lương hưu, trợ cấp BHXH: Người lao động và thân nhân cần nắm rõ quy định

Thu hồi lương hưu, trợ cấp BHXH: Người lao động và thân nhân cần nắm rõ quy định

Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) là nguồn thu nhập quan trọng, bảo đảm đời sống cho hàng triệu người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng làm việc. Để bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ và đúng quy định pháp luật, cơ quan BHXH không chỉ thực hiện chi trả hằng tháng mà còn có trách nhiệm thu hồi số tiền đã chi trả trong một số trường hợp cụ thể. Việc nắm rõ các quy định này sẽ giúp người hưởng và thân nhân yên tâm, tránh phát sinh vướng mắc không đáng có.
Lịch nghỉ Tết Nguyên đán 2026 và toàn bộ chế độ lương, thưởng người lao động cần biết

Lịch nghỉ Tết Nguyên đán 2026 và toàn bộ chế độ lương, thưởng người lao động cần biết

Tết Nguyên đán luôn là dịp được người lao động mong chờ nhất trong năm. Không chỉ bởi thời gian nghỉ dài để sum họp gia đình, mà còn vì các chế độ tiền lương, thưởng và quyền lợi đi kèm. Năm 2026, cùng với lịch nghỉ Tết kéo dài tới 9 ngày liên tiếp, nhiều chính sách về tiền lương làm thêm, thưởng Tết và nghĩa vụ thuế cũng là nội dung người lao động cần nắm rõ để bảo đảm quyền lợi của mình.
Quy định mới về nghỉ phép năm người lao động cần biết

Quy định mới về nghỉ phép năm người lao động cần biết

Nghỉ phép năm là một trong những quyền lợi quan trọng, gắn trực tiếp với sức khỏe, đời sống và sự tái tạo sức lao động của người lao động. Tuy nhiên, thực tế không ít người vì áp lực công việc hoặc đặc thù vị trí làm việc mà không sử dụng hết số ngày nghỉ phép trong năm. Vậy bước sang năm 2026, người lao động có được thanh toán tiền cho những ngày phép chưa nghỉ hay không? Quy định pháp luật hiện hành đã có những phân định khá rõ theo từng nhóm đối tượng.
Người lao động nhận thưởng Tết bằng hiện vật vẫn phải đóng thuế

Người lao động nhận thưởng Tết bằng hiện vật vẫn phải đóng thuế

Mỗi dịp Tết đến, bên cạnh niềm vui sum họp gia đình, người lao động đặc biệt quan tâm đến các khoản thu nhập cuối năm như lương tháng 13, thưởng chuyên cần, quà Tết hay các khoản trúng thưởng trong tiệc tất niên của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải khoản nào nhận được cũng “trọn vẹn” mang về, bởi theo quy định pháp luật, nhiều khoản thu nhập phát sinh dịp Tết vẫn thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN), kể cả khi được chi trả bằng hiện vật.
Lao động nữ nuôi con nhỏ làm công việc độc hại được giảm giờ làm, không bị giảm lương

Lao động nữ nuôi con nhỏ làm công việc độc hại được giảm giờ làm, không bị giảm lương

Trong bối cảnh nhiều lao động nữ vừa quay trở lại làm việc sau sinh, vừa phải đảm đương trách nhiệm chăm sóc con nhỏ, pháp luật lao động hiện hành đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ sức khỏe, chức năng sinh sản và quyền lợi việc làm của lao động nữ. Đáng chú ý, lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng nhiều chế độ ưu tiên, trong đó có giảm giờ làm việc hằng ngày mà không bị giảm tiền lương.
Người lao động có quyền từ chối trực Tết Nguyên đán 2026 không?

Người lao động có quyền từ chối trực Tết Nguyên đán 2026 không?

Mỗi dịp Tết đến, xuân về, câu chuyện trực Tết, làm việc trong những ngày nghỉ lễ luôn là mối quan tâm lớn của người lao động, đặc biệt là trong các ngành sản xuất, dịch vụ, y tế, vận tải… Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 cũng không ngoại lệ. Nhiều người băn khoăn, người lao động có bắt buộc phải trực Tết hay có quyền từ chối nếu không muốn làm việc trong những ngày này?
Xem thêm