Cặp đôi nhuộm đen
Có thể hình dung Trạm bảo dưỡng sửa chữa vũ khí bộ binh như một lò mổ súng. Súng lớn súng bé, súng to nhỏ đều được tiểu phẫu, trung phẫu ở đây. Với súng K54, trung bình bảo dưỡng 10 khẩu một công, với tiểu liên 6-7 khẩu một công, còn trung liên phải tháo báng, phần gỗ bàn giao cho tổ mộc, phần sắt thép thì các thợ bảo dưỡng làm.

Tại Trạm bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí Phân kho PK816, Kho K812 chúng tôi đã gặp anh Cao Vi Lượng và anh Dương Đức Hải, hai người được coi như cặp bài trùng của đơn vị về “đẳng cấp nhuộm đen”. Đây là từ chuyên môn chỉ một công đoạn nhuộm vũ khí chứ không phải chỉ màu da, dù da của hai anh cũng sạm đen gần như màu súng.
Anh Dương Đức Hải sinh năm 1976, quê Lệ Thuỷ, Quảng Trị, mang hàm trung tá QNCN là thợ sửa chữa vũ khí bộ binh. Anh Hải cũng là xạ thủ bắn giỏi toàn quân. Trong cuộc thi thợ sửa chữa quân khí giỏi toàn quân năm 2016 anh giành giải Nhất, còn năm 2024 anh giành giải Ba.
Cái sự tinh giảm vĩ mô cũng đã soi chiếu đến góc nhỏ nơi những người lính quân khí, hai tổ sửa chữa vũ khí bộ binh từ 10 người xuống còn 4 người, một tổ trưởng, một tổ phó và hai tổ viên.
Quy trình bảo quản vũ khí bộ binh phải tách mỡ ra để thay mỡ mới, công việc này sử dụng lò nung nóng để tách mỡ ra. Sau khi kiểm tra, cập nhật tình trạng kỹ thuật mới nhúng mỡ trở lại. Môi trường làm việc thường xuyên tiếp xúc với dầu mỡ, khói bụi, không khí lúc nào cũng như có sương mù. Các anh được hưởng 15% phụ cấp đặc thù quân sự.
Một công đoạn mà anh Hải và anh Lượng mô tả khá ấn tượng đó là công đoạn nhuộm đen. Đầu tiên là tách mỡ, tách màng mỡ, rồi tách a xít, sau đó sẽ tẩy gỉ, lúc đó mới đủ tiêu chí để nhuộm đen lại.
Quan trọng nhất ở công đoạn này là khống chế nhiệt độ nước gồm sắt sunfat nhằm mục đích tạo ra một lớp oxit sắt đen trên bề mặt kim loại để tránh bị ăn mòn, giảm phản quang nhưng cũng phải duy trì độ chính xác về kích thước của vũ khí cũng như chi tiết, thiết bị.
Người thợ phải khống chế nhiệt độ lò trong khoảng 137 đến 1420C. Mỗi vũ khí trang bị khi nhuộm đen sẽ đi qua ba lò, người thợ thực hiện công đoạn này sẽ phải ở khu vực lò liên tục 90 phút trong điều kiện nhiệt độ cao và hơi độc. Ở nhà trường có dạy công đoạn nhuộm đen nhưng thường không có trải nghiệm thực tế mà khi về đơn vị những người thợ mới học hỏi dần từ những đàn anh đi trước để thực hiện.
Anh Hải nói rằng, phần xử lí bề mặt sẽ quyết định chất lượng của sản phẩm có đạt yêu cầu hay không. Theo anh Hải, đòi hỏi quan trọng nhất của công đoạn nhuộm đen bắt đầu từ khâu pha hoá chất, phải đảm bảo đúng tỉ lệ, sau đó là việc khống chế nhiệt độ. Những người thực hiện công đoạn nhuộm đen đều là những người thợ tay nghề cao, 7/7.
Nhập ngũ tháng 2 năm 1995, sau huấn luyện anh Hải về Kho 816 trước đây, sau đó đi học Trung cấp kỹ thuật vũ khí tại Vĩnh Phúc. Anh Hải cũng có thời gian vào Kho K897 tại Mang Jang, Gia Lai năm 2004 cùng với 9 người khác, sau đó mới trở lại 816. Trong 9 người đi có 3 người xung phong, trong đó có anh, ngày ấy Hải còn trẻ, chưa vợ, chưa vướng bận gia đình.
Ở đó 4 năm. Số người cùng đi năm ấy, người thì đã nghỉ hưu, người cũng về lại 816 như anh. Vào Gia Lai rồi lại trở về xứ Nghệ, mãi đến 40 tuổi anh Hải mới lập gia đình, hiện anh ở cách Kho chỉ 500 mét, trong khu tập thể của những người lính quân khí.

Cao Vi Lượng sinh năm 1982, quê Diễn Châu, Nghệ An. Anh Lượng thì có sự “ổn định tuyệt đối”. Nhập ngũ tháng 3 năm 2002, sau khi học Trung cấp vũ khí anh về Kho K816 năm 2007 và gắn bó với Trạm sửa chữa từ đó cho đến nay.
Nói về nhuộm đen anh Lượng cho biết, việc xử lí bề mặt rất quan trọng, bề mặt đạt yêu cầu thì nhuộm mới đạt yêu cầu, bề mặt mà không sạch nhuộm xong sẽ bị lấm chấm. Người thợ có kinh nghiệm chỉ nhìn bể hoá chất đã biết có đạt yêu cầu hay không. Một quy trình nhuộm đen kéo dài 2 tiếng. Để có được những đúc kết rất “cơ địa” như thế, Cao Vi Lượng đã phải trải qua những năm tháng học hỏi, trải nghiệm thực tế và rút kinh nghiệm.
Người thầy đầu tiên dạy cho anh trở nên lành nghề như bây giờ chính là anh Dương Đức Hạnh, anh trai của Dương Đức Hải. Học nhuộm đen, học soi hàng, học kiểm tra kỹ thuật, cả tiêu chí kỹ thuật và kinh nghiệm cảm nhận của người thợ. Học từ đàn anh để vận dụng vào công việc, sáng tạo hoàn thiện theo từng thời kì, để đến bây giờ đến lượt các anh Lượng, Hải lại dạy lại cho các thế hệ sau. Đôi khi thực tế là người thầy lớn nhất, như anh Lượng, đã làm nhuộm đen tới 10 năm mới đi… tập huấn nhuộm đen. Đó là lớp tập huấn 15 ngày diễn ra vào năm 2017.
Chất lượng nhuộm đen của Phân kho PK816 thuộc hàng top, tốt nhất toàn quân, một số đơn vị đã về đây học hỏi. Nhưng mỗi thời kì lại có những chuyển đổi, cải tiến cần cập nhật.
Ban đầu nhuộm đen ở Phân kho PK816 đun lò bằng củi, là thời của những năm trước, năm 2021 đơn vị lắp đặt dây chuyền nhuộm tự động bằng điện, đun dầu có cảm biến nhiệt không còn phải làm thủ công nữa. Trước đây riêng việc phụ trách đun củi cũng mất ba bốn người. Nay số lao động giảm đi, năng suất chất lượng cũng nâng cao. Mọi thứ tốt dần lên, môi trường làm việc của người thợ cũng dần được cải thiện. Cũng như các loại vũ khí trang bị sửa chữa bảo dưỡng mà các thế hệ sau làm sẽ ngày một hiện đại hơn, nhiều tính năng hơn.
Những bệnh mà người làm bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí lâu năm hay mắc phải thường là ngứa, xương khớp, xoang… Sau này trên đầu tư xây dựng hệ thống hút khí độc, hệ thống xử lí chất thải rắn và hệ thống xử lí chất thải độc hại giúp cải thiện điều kiện làm việc cho người thợ. Hiện thợ bảo dưỡng sửa chữa vũ khí chưa được công nhận bệnh nghề nghiệp như bên mảng đạn dược, vì kết quả giám định độ độc hại dưới mức quy định, tuy nhiên một số anh chị làm việc lâu năm cũng mắc các bệnh hiểm nghèo như K phổi và các bệnh đường hô hấp khác.
Khám bình thường chưa ra bệnh nhưng có anh Cương cẩn thận tự bỏ tiền đi khám bằng quét AI thì phổi cũng bị nhiễm độc. Nguyện vọng của anh chị em mong muốn có quy định hợp lí hơn đối với những người thợ ngành vũ khí.

Những nẻo đường lính thợ
Để bắt đầu một cuộc đời quân khí đôi khi là sự kế tiếp, nhưng đôi khi cũng giản dị như một cơ duyên. Ở Phân đội 3, Đội vệ binh bảo vệ Kho đạn, Kho K812 chúng tôi gặp anh Mai Văn Minh. Anh Minh vừa đi xây rãnh thoát nước về. Đây là một trong những phần việc cần củng cố trước mùa mưa. Hành trình lính kho của anh Minh có phần “lòng vòng”.
Tháng 9 năm 1994, từ quê ở Ba Đình, Thanh Hoá, anh nhập ngũ vào Kho K812 và có 10 năm ở đây. Khi sắp đến thời điểm xuất ngũ, Chủ nhiệm Kho K812 Hán Đức Chinh hỏi anh, cháu có muốn phục vụ Quân đội lâu dài không, Minh bảo, nhưng cháu chỉ học hết cấp ba, chú Chinh nói, thế cũng được rồi, có người còn chưa học hết cấp ba mà. Vậy là sau cái gật đầu của anh, chú Chinh đi Hà Nội họp tranh thủ báo cáo cấp trên, độ một tháng sau thì có quyết định. Đi học sơ cấp rồi trung cấp đạn xong anh Minh về lại Kho làm việc. Đến năm 2006, khi Kho K899 thành lập ở Lâm Đồng anh Minh nằm trong số anh em xung phong vào kho mới.
Anh đã làm dây chuyền sửa chữa đạn, tổ trưởng tổ cần vụ bốc xếp ở kho mới nơi vùng đất phía Nam, đến 2024 anh mới quay lại Kho K812 vì lí do bố mẹ vợ già yếu cần người chăm sóc. Giải thích việc sẵn sàng vào Lâm Đồng công tác, anh Minh nói rằng, trong đơn xin phục vụ Quân đội lâu dài có điều cuối cùng là sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, đi bất cứ đơn vị nào Quân đội cần, thế nên việc anh vào Kho K899 cũng là bình thường.
Bố mẹ anh Minh ở quê thì đã già mất nhưng bố mẹ vợ thì nay đã trên 95 tuổi, ở ngay Quỳ Hợp, gần Kho K812 nên anh quay về Kho cũng là về gần nhà. Tính đến thời điểm năm 2022, khi anh Minh đi khám để giám định bệnh nghề nghiệp, anh có 24 năm 6 tháng liên tục tiếp xúc với đạn dược. Anh được xác định mất 40% sức khoẻ quy đổi. Mỗi tháng được lĩnh 2,3 triệu đồng tiền trợ cấp bệnh nghề nghiệp.

Lực lượng đóng tại Kho K812, cách Phân kho PK816 chừng hai chục cây số thì chuyên về đạn. Tại Trạm bảo dưỡng sửa chữa đạn, chúng tôi gặp chị Bùi Thuý Hoà, quê Cao Phong, Hoà Bình trước đây. Nguyên do đến với vùng miền Tây xứ Nghệ của chị Hoà cũng rất tự nhiên. Chị gái của Hoà là Bùi Thị Thu Thanh lấy chồng làm việc tại Kho. Vào theo chị, ngày đầu về Kho, Hoà được đưa về ở trong căn phòng 10 mét vuông của dãy nhà cấp 4 lợp tôn, ăn cơm bếp tập thể, tối đói thì ăn mì tôm cân, rừng núi âm u chỉ có tiếng chim không thấy tiếng người, đã có những đêm Hoà khóc vì nhớ nhà. Anh rể thấy tội quá hỏi cô có muốn về kho ở Hoà Bình cho gần nhà không thì chị lại chọn ở lại. Khó khăn là thế nhưng khi đứng trước sự lựa chọn thì Hòa đã không lùi bước, không chọn đi con đường dễ dàng hơn.
Những năm tháng thử thách tuổi trẻ đó cũng là những năm tháng nhiều kỉ niệm với chị Hòa. Hơn mười chị em từ các miền quê đều chưa chồng, có miền Bắc có miền Trung. Người ở Hưng Yên, Hoà Bình, Hà Nội cùng ăn cùng ở cùng làm. Mỗi khi đạn về cần nhập kho, hòm đạn M21 nặng cả trăm cân bốn người mới khiêng nổi. Có những thứ máy móc không làm thay con người được, với đạn dược, dù nặng vẫn cần sự cẩn trọng, nhẹ nhàng và chính xác của bàn tay con người.
Công việc bảo quản, bảo dưỡng vũ khí có những khó khăn riêng, còn bảo quản, bảo dưỡng đạn ngoài khó khăn còn tiềm ẩn những hiểm nguy. Trong các công việc của bảo dưỡng, sửa chữa đạn dược, Hoà chia sẻ, bảo dưỡng thuốc nổ là nguy hiểm, độc hại nhất. Những việc cần làm với từng khối thuốc nổ TNT như bong gôm, dầu chảy, bong tróc… đều cần đến bàn tay người thợ và những việc này cần đến sự khéo léo của phụ nữ. Hoà từng đi dự Đại hội Thi đua quyết thắng cấp Tổng cục giai đoạn năm 2019-2024, đại diện cho chị em phụ nữ Kho K812.
Ở Kho K812 còn có Vũ Thị Thu Hương, sinh năm 1976, quê Ân Thi, Hưng Yên. Nhập ngũ năm 1995, chị về Kho K870 ở Gia Lai, sau đó, năm 1998 mới về Kho K812 là vì một cơ duyên. Khi học Cao đẳng kĩ thuật Vinhempic ở Biên Hoà chị đã bén duyên với một người bạn học cùng ở Nghĩa Thuận, Nghĩa Đàn, Nghệ An nên ra trường, chị có nguyện vọng xin về Kho K812 để gần nhà của anh. Hai người kết duyên, có hai con, đến nay con đầu của họ đã xây dựng gia đình trước dấu mốc 30 năm hai vợ chồng gắn bó với ngành quân khí.
Những năm tháng gian khó dần qua đi, vợ chồng người lính quân khí hoà cùng đời sống sinh hoạt của lính quân khí, của người dân xứ Nghệ, từ cái thời nhà ai có tivi là tất cả qua xem chung, cùng bàn tán về một bộ phim, một chương trình truyền hình, thiếu thốn nhưng lại đậm đà tình cảm, sự sẻ chia, đùm bọc. Nhà anh chị trong khu tập thể, cách xa trung tâm, con đạp xe ra Thái Hoà học sáu bảy cây số, đất kẹt vào bánh xe không đi được, nhìn con vừa khóc vừa dắt xe mà thương chảy nước mắt. Con lên cấp hai phải đi học xa, đứa đầu kì một còn đưa đón, kì hai tự đi, đứa hai thì được đưa đến lớp bảy.
Chị Hương hiện là uỷ viên BCH Hội Phụ nữ Kho K812, những khó khăn đã dần qua, cũng dần quen, ngày ngày sau giờ làm việc chị vẫn đi bộ quanh sân bóng, quanh hồ Lác của đơn vị, cảm thấy gắn bó thân thương với nơi này. Xứ Nghệ tự bao giờ đã thành quê hương thứ hai của chị.
Giữ súng đạn nơi “thiếu mưa thừa nắng”
Bây giờ Kho K812 đã được đầu tư xây mới các nhà kho theo tiêu chuẩn hiện đại và thông minh, có hệ thống báo cháy, hệ thống đo nhiệt… Tôi đã gặp ở đây một người thủ kho sắp đi hết con đường của một người lính quân khí, Trung tá CN Đặng Tuấn Hanh. Anh Hanh quê Hà Tĩnh, vào kho năm 1996 và làm thủ kho từ năm 2000 cho đến nay, chỉ còn một năm nữa anh sẽ được nghỉ chờ hưu.
Gần 30 năm quản lí đạn dược, hàng nghìn lô đạn đã qua tay anh trông nom, bảo quản, từ các lô đạn pháo mỗi hòm nặng cả trăm cân hay các kho đạn súng nhỏ. Chia sẻ một chút kinh nghiệm thủ kho, anh Hanh bảo, cần quan tâm nhất là các hộp rời, lẻ, dễ thất thoát, sẽ phải để mắt nhiều hơn. Ngày trước đạn chưa bao gói, các hộp sắt phải cắt ra để hoá thí nghiệm đánh giá chất lượng và mức độ an toàn, quản lí các hộp này cũng cần rất chú ý, nhất cử nhất động người thủ kho phải nắm được.
Công việc của lính kho xứ Nghệ, vùng đất “thiếu mưa thừa nắng” cũng mang lại những vất vả đặc thù. Ngày trước kho cơ bản là các nhà cấp 4 lợp tôn, thời tiết miền Tây xứ Nghệ khắc nghiệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 7 trời nắng nóng, công tác thông gió rất cần thiết, nóng quá thì xe cứu hoả phải vào phun nước lên mái tôn để giảm nhiệt. Đêm cần thông gió cho kho nên việc ở lại làm thêm đến tám chín giờ tối với anh Hanh và các thủ kho đạn khác là thường. Sáng ra thì bốn năm giờ sáng đã phải vào mở cửa.
Công việc của người thủ kho đạn cứ trải hết mùa hè nóng bức đến mùa đông giá lạnh. Mỗi kho đều nằm biệt lập giãn cách theo quy định hàng trăm mét, được giới hạn trong các ụ chống nổ lây nên người thủ kho cũng làm việc biệt lập, thường chỉ có một mình. Sau lưng anh Hanh là bảng công tác có ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội, vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lí”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi người lính quân giới trong việc giữ gìn, bảo quản từng viên đạn.

Hơn một trăm nhà kho của Kho K812 hôm nay mới phân nửa được hiện đại hoá bằng các nhà mái vòm thiết kế mới, còn lại vẫn còn các nhà kho cũ. Một năm nữa anh Hanh sẽ rời vị trí và những đồng nghiệp của anh sẽ vẫn ngày đêm bên những kho đạn, chăm chút từng chi tiết nhỏ nhất.
Đại tá Hoàng Mạnh Hùng, Phó chủ nhiệm Kho K812 lái xe điện đưa chúng tôi đi một vòng quanh khu vực kho, dọc những con đường đi tuần, những bốt gác. Bên ngoài hàng rào có một con đường tí xíu, gọi là đường nhưng chỉ là dải bê tông hẹp đặt lên đất, nhỏ nhưng chạy bao quanh cả diện tích bạt ngàn của kho. Anh Hùng bảo, con đường này anh em vệ binh đặt tên là “đường lưỡi rắn”, vì nó nhỏ, hình thù như lưỡi rắn. Tuy thế chiều dài lại vô tận, bước chân người vệ binh sẽ bước trên ấy tuần tra, đêm cũng như ngày, đi mãi mà “lưỡi rắn” lúc nào cũng vẫn ở phía trước.
Nhờ con đường lưỡi rắn ấy mà anh em cảnh vệ đi trực ngày mưa đã đỡ lầy lội hơn, có chỗ sạch sẽ mà đặt chân, và cũng tránh được nhiều nguy cơ khác, trong đó có cả việc tránh những lưỡi rắn thật vốn ẩn mình khắp các bờ bụi, búi cây ngọn cỏ dưới bước chân.
Đã từng có vệ binh đi tuần bị rắn cắn phải tháo mất một đốt ngón tay. Để có sự hiện diện của con đường lưỡi rắn này là cả một câu chuyện phía sau liên quan đến một người lãnh đạo, Trung tướng Lê Quý Đạm, khi ông đang là Cục trưởng Cục Quân khí. Trong quá trình đi kiểm tra các kho, thấy anh em đi tuần vất vả, ông đã có sáng kiến làm con đường này.
Những câu chuyện ấy được anh Hùng tích luỹ trong những năm tháng gắn bó với Kho K812, kể từ năm 1997, anh về Kho làm Phó trạm trưởng Trạm bảo dưỡng sửa chữa đạn. Những năm tháng trước đó các nhà kho còn tạm bợ đơn sơ nói gì đến nơi ăn chốn ở. Có nhà kho chỉ có mái chẳng có vách, có trần, đạn để phơi trần thông thống. Hàng rào bao quanh cũng là hàng rào thép gai sau đó mới đầu tư xây tường bao.
Đường lưỡi rắn được triển khai sau thời điểm đó, khoảng năm 2001 và nó vẫn còn mãi đến bây giờ, đã in dấu không biết bao nhiêu bàn chân người lính gác kho. Bây giờ ở Đội vệ binh đã có phòng camera, ở văn phòng Kho cũng vậy, dọc hàng rào bảo vệ luôn có các camera giám sát. Quá trình chuyển đổi số đã hỗ trợ cho công tác bảo vệ, giữ gìn an ninh an toàn rất nhiều, chỉ cần ngồi trong phòng là có thể nắm bắt được di biến động trên từng đoạn đường, hoạt động của anh em làm công tác tuần tra, canh gác.
Anh Hùng bảo, mỗi thế hệ đóng góp một chút, bỏ công sức một chút để tạo nên những bước phát triển. Gián đoạn một thời gian đi các Kho K866 rồi K852, năm 2022 anh Hùng về lại Kho K812 giữ cương vị Phó Chủ nhiệm Kho. Lịch sử Kho K812 cũng có những biến động thăng trầm theo thời gian với những tách nhập, điều chỉnh về quy mô, tính chất.

65 năm với những thay đổi phiên hiệu để phù hợp với từng thời kì, có những giai đoạn nâng lên thành Tổng kho 763 gồm nhiều kho nhỏ trong khu vực, gần nhất đầu năm 2025 thực hiện Đề án KA-10, hai Kho K812 và K816 đã sáp nhập thành Kho K812 dưới mái nhà chung của Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Điều đó cũng là cơ sở để tạo đà phát triển mới, thuận lợi cho việc đầu tư về con người, kho tàng, công nghệ và cả việc hoàn thiện quy trình công tác, khai thác bảo quản, xử lí đạn dược.
Sau sáp nhập với quy mô lớn hơn, Kho K812 đang tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ mới. Nhưng những khó khăn mới cũng đặt ra, như nhiệm vụ nhiều hơn, vị trí đóng quân phân tán, đội ngũ sĩ quan đủ nhưng đội ngũ thợ thiếu và bị “già hoá”, mỗi vị trí cũng phải kiêm nhiệm nhiều hơn so với trước đây.
Đại tá Hoàng Mạnh Hùng tâm sự, ngành quân khí rất đặc thù, lại độc hại, nguy hiểm, thế hệ trẻ giờ đây có nhiều lựa chọn, ít ai chịu dấn thân vào nơi như thế. Tuy vậy thì lính quân khí ở vùng đất miền Tây xứ Nghệ vẫn là một giá trị.
Anh Hùng cũng đùa vui rằng, riêng con gái vào quân khí không bao giờ ế chồng, không bao giờ thừa, ai cũng có gia đình, và đa số là người quân khí về chung một nhà, vì những đồng điệu, xứ Nghệ cũng thành nơi đất lành chim đậu. Một vùng kho nép mình vào núi nơi miền Tây xứ Nghệ bao nhiêu năm nay, từ khi rừng còn hươu nai, khỉ, lợn rừng, rừng già còn cây trườn ra chắn đường chắn lối. Hòa bình, kho được xây dựng lại, để xây thì phải rà phá bom mìn.
Thời chiến tranh bom ở đâu rơi đều được kiểm soát. Trong những lần cải tạo, xây dựng mới các nhà kho trên các nền kho cũ bị bom Mỹ đánh hỏng, hư hại, công tác rà phá bom mìn đều được tiến hành với sự hỗ trợ của lực lượng công binh. Hơn 60 quả bom được xác định còn trong khu vực kho chưa nổ đến giờ mới tìm kiếm, hóa giải được phân nửa.
Kho K812 được thành lập năm 1961. 65 năm ra đời nơi miền Tây xứ Nghệ, được đồng bào các dân tộc Nghệ An đùm bọc, chở che, đồng hành trong một số nhiệm vụ, vượt qua những thời khắc khó khăn nhất, giờ đây, đất và người Tây Hiếu vẫn còn lưu dấu những câu chuyện về một “hệ sinh thái K812” trong kí ức của rất nhiều người. Nơi đây có những “vùng quân giới” phủ xanh cây, có màu áo của những người lính kho với những cống hiến âm thầm, với nhiệm vụ thầm lặng và việc chia sẻ về nó thuộc diện “bí mật quân sự”.
Buổi chiều, chúng tôi cùng Đại tá Hoàng Mạnh Hùng đi dọc khuôn viên đơn vị, cả vùng kho rộng mênh mông, ngoài cổng là vành đai lòng dân, chính là khu gia đình của những cán bộ, công nhân viên kho, những người thợ các thế hệ đã gắn bó với Kho K812 các thời kì. Trong khuôn viên những cây săng lẻ bạc trắng như một biểu tượng của Trường Sơn, của vùng đất phía Tây xứ Nghệ.
65 năm vật đổi sao dời, nhưng có những nhiệm vụ của người lính vẫn không thay đổi, có những công việc máy móc công nghệ vẫn không thể làm thay con người. Những người lính quân khí từ các miền quê đã đến và ở lại nơi miền Tây xứ Nghệ, làm tròn bổn phận của mình, để lại hình ảnh đẹp về những người lính Bộ đội Cụ Hồ trong lòng Nhân dân các dân tộc Nghệ An.
Đọc nhiều
Tin tức khác
Đổi mới tư duy lập pháp: Lấy sức khỏe, tính mạng người lao động làm điểm tựa lớn nhất
Sự cần thiết phải sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động
Hội nghị người lao động Công ty mẹ - Tập đoàn VNPT năm 2026
Cô giáo Lê Thị Thúy Kiều: Hoa hướng dương thầm lặng giữa đời thường
Bài 2: Tạo động lực mới từ người công nhân thời đại số