Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận
Nghiên cứu

Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận

Đại tá Nguyễn Văn Phương - Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 20
Cùng với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam còn có chức năng là đội quân lao động sản xuất.
Xung lực mới cho phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Quân đội

Tóm tắt: Cùng với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam còn có chức năng là đội quân lao động sản xuất. Sự cần thiết, giá trị và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chức năng này đã được khẳng định trong thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội. Nhờ đó, Quân đọi đã xây đắp nên truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" - Bộ đội của Nhân dân. Thế nhưng, từ trước đến nay, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội ta, chúng cho rằng, quân đội hiện đại chỉ có một nhiệm vụ chiến đấu. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái này là rất cần thiết.

Từ khóa: Chức năng lao động sản xuất, quốc phòng, kinh tế - xã hội, Quân đội trong kỷ nguyên mới, phản bác quan điểm sai trái.

Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận

Thiếu tướng Ngô Minh Thuấn, Tư lệnh Binh đoàn 20 đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang và đoàn công tác dự khởi công Trung tâm Y tế Bảo Lạc, do Binh đoàn 20 (một doanh nghiệp thuộc Quân đội), tài trợ 200 tỷ đồng.

Kế thừa truyền thống dân tộc và vận dụng hiệu quả kế sách “ngụ binh ư nông” “biên thịnh quốc cường” của ông cha ta và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chiến tranh, quốc phòng; đồng thời, quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới về kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước…, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, Quân đội ta đã và đang phấn đấu hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; kết hợp chặt chẽ giữa củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Các tập đoàn, binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, tổng công ty, công ty, xí nghiệp, các đơn vị hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động tăng gia sản xuất của các cơ quan, đơn vị đã được tổ chức có kế hoạch, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; qua đó, khẳng định rõ, Quân đội đã và đang thực hiện tốt chức năng là đội quân lao động sản xuất.

Chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội được xác lập trên cơ sở chính trị, lịch sử và pháp lý vững chắc; đã góp phần quan trọng bảo đảm và nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, đóng góp cho ngân sách nhà nước, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố chính quyền địa phương, cơ sở; xóa các điểm trắng về y tế, giáo dục; từng bước nâng cao thu nhập cho quân nhân, viên chức, lao động quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn chặt với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, làm nền tảng tăng cường tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới; không để bị động, bất ngờ, nhất là trên các hướng, các địa bàn chiến lược, vùng biên cương, hải đảo, vùng dân tộc ít người.

Hiện nay và trong những năm tới, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường với sự đan xen tác động đa chiều, cả tích cực và tiêu cực, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, đòi hỏi Quân đội ta phải thực hiện tốt “bốn kiên định” mà Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Đảng đã xác định. Trong đó, nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để vừa chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia lao động sản xuất, không ngừng nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận

Binh đoàn 20 với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu: Kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng; thực hiện sản xuất kinh doanh trên 5 trụ cột: Khai thác cảng; Dịch vụ logistics; Vận tải và các ngành kinh tế biển; Đầu tư, kinh doanh khu công nghiệp, khu thương mại tự do; Dịch vụ du lịch biển đảo và phát triển năng lượng tái tạo.

Để thống nhất nhận thức và hành động, luôn đề cao trách nhiệm, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động sản xuất, phát triển kinh tế, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội của Quân đội, ngày 16/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 109/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030”. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, Nhà nước về kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng còn không ít khó khăn, thách thức; trong đó, có sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch về “Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội”.

1. Xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ Quân đội lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội - Âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch

Những người có quan điểm đối lập với Đảng ta cho rằng, “quân đội chỉ có một chức năng chiến đấu, không thể có chức năng lao động sản xuất”. Họ lập luận rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là “làm sai chức năng, nhiệm vụ”, “tự quân đội làm suy yếu sức mạnh của mình”, cũng vì như thế, “quân đội trở thành đội quân ô hợp”. Theo họ, phát triển kinh tế, xã hội là công việc của các thành phần, lực lượng kinh tế dân sự, tuân theo quy luật thị trường. “Quân đội không nên tham gia lao động sản xuất, không nên làm thay chức năng của người dân, vì như vậy sẽ không tập trung huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dẫn đến làm giảm sức mạnh, xa rời nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc”.

Họ còn cho rằng, hiện nay là thời bình, cần tinh giảm quân đội, chuyển một bộ phận lớn quân nhân sang dân sự, do nhà nước quản lý, những người này được tổ chức như hợp tác xã nông nghiệp, hay xí nghiệp để tập trung phát triển kinh tế - xã hội; làm như thế vừa giảm được ngân sách quốc phòng chi cho quân đội.

Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận

Tân Cảng Sài Gòn là doanh nghiệp Quân đội tiên phong tham gia hoạt động dân vận, trách nhiệm công đồng, nhận phụng dưỡng suốt đời gần 400 bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thân nhân liệt sĩ trên địa bàn cả nước.

Một số người còn cho rằng, quốc phòng và kinh tế, văn hóa, xã hội là những lĩnh vực riêng biệt, hoạt động theo những mục đích, cách thức vận hành khác nhau, do các lực lượng khác nhau đảm nhiệm chuyên biệt mới có hiệu quả. Vì vậy, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội “là một sự gán ghép chủ quan, duy ý chí không có cơ sở để thực hiện”, “chỉ sinh lời cho một số quan chức, tướng lĩnh”.

Loạt ý kiến khác lại cho rằng, trước đây, đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thì Quân đội vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất để bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho cán bộ, chiến sĩ, điều đó là cần thiết, có thể chấp nhận. Tuy nhiên, ngày nay, sau 40 năm đổi mới, vị thế của Việt Nam đã khác, đã có đủ điều kiện cung cấp ngân sách, cơ sở vật chất cho các đơn vị Quân đội hoạt động chính quy. Hơn nữa, Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng xác định đã có nguồn ngân sách hằng năm cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các đơn vị quân đội.

Cùng với các luận điệu trên, họ còn tung ra những tin đồn sai trái và biện luận rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội thực chất là “sự mị dân của tập đoàn Hà Nội”, “là bức màn che chắn cho các hành vi tham ô, tham nhũng, lợi dụng nguồn lực của toàn dân như đất đai, cảng biển, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn nhà nước và nguồn nhân lực miễn phí để làm giàu cho những nhóm lợi ích và một số cá nhân có chức vụ, quyền hạn”, là “tham nhũng biến tướng”.

Với lý lẽ ấy, họ cho rằng, cơ chế hạch toán, phân phối trong Quân đội không rõ ràng, thiếu minh bạch, còn nhiều hiện tượng xin - cho “rất nặng”. Dẫn đến, Quân đội tham gia lao động sản xuất sẽ làm sai lệch bản chất kinh tế quốc gia, dùng mệnh lệnh để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, lợi dụng sức lao động của chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự để làm kinh tế; quyền, lợi ích sẽ rơi vào một số nhóm có đặc quyền, đặc lợi là sĩ quan, tướng lĩnh.

Lợi dụng các vụ việc sai phạm trong quản lý kinh tế, chuyển mục đích sử dụng đất quốc phòng, trong xây dựng cơ bản, họ tung tin rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là sai nguyên tắc, nhất là “những sai phạm thì cho vào quản lý theo chế độ mật”, dẫn đến mất dân chủ, gây ra thiệt hại, tổn thất nghiêm trọng về kinh tế, tác động tiêu cực đến xã hội, làm ảnh hưởng đến phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; gây thiệt hại cho tiền thuế của Nhân dân. Việc làm kinh tế, sản xuất, kinh doanh của Quân đội là “lợi dụng đất quốc phòng cũng như hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng để thu lợi riêng”. Quân đội tham gia lao động sản xuất là cạnh tranh không bình đẳng với các thành phần kinh tế khác vì các doanh nghiệp quân đội được đầu tư về vốn, đất đai và các nguồn lực khác, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế, v.v..

Một số ý kiến khác cho rằng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không được đào tạo chuyên sâu, lao động sản xuất không phải là chức năng chủ yếu, cơ bản thì việc này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ dẫn đến sai phạm, vi phạm pháp luật về kinh tế, mất an ninh, an toàn trong sản xuất, dẫn đến tham nhũng trong Quân đội.

Tung ra những luận điệu này, các thế lực thù địch muốn “phủ nhận chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội”. Những âm mưu, thủ đoạn này hết sức nham hiểm bởi chúng không chỉ gây hoang mang mà còn lái những hiểu biết không đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, tuyên truyền xuyên tạc uy tín, vị thế, phẩm chất và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội; gây chia rẽ giữa Quân đội với Nhân dân, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận sự cần thiết phải xây dựng “thế trận lòng dân”.

Quân đội tham gia lao động sản xuất - những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận

Cảng Tân Cảng - Cát Lái thuộc Binh đoàn 20 - Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, là cảng lớn và hiện đại, chiếm gần 30% sản lượng hàng hóa thông qua toàn quốc.

2. Tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội - nhiệm vụ chiến đấu thời bình của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

Cả lý luận và thực tế khẳng định, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là đúng với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam.

Trước hết, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò quan trọng của quân đội trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. C. Mác chỉ rõ: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”[1]. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lênin đã khẳng định, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế: “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến cho chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động”[2]. Đầu năm 1920, khi Nhà nước Xô - viết bước sang thời kỳ ngừng chiến, nhưng khả năng các nước đế quốc vũ trang can thiệp vẫn còn, V.I. Lênin đề xuất chuyển một số đơn vị chính quy của Hồng quân Liên Xô thành những đội quân lao động, trực tiếp tham gia sản xuất, tạo thêm nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội và cho Hồng quân. Tư tưởng của V.I. Lênin đã đặt nền móng vững chắc cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ khi thành lập, chức năng phát triển kinh tế của Quân đội ta đã được Lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng, chỉ đạo thực hiện để khắc phục sự bao vây, phong tỏa của kẻ thù, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế nước nhà và sự đóng góp của nhân dân. Người yêu cầu “các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chăn nuôi để tự túc phần nào để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính nhưng phải cố sức tăng gia”[3]. Bàn về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của quân đội, Người cho rằng “Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà… Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế… Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau… Đảng và Chính phủ giao cho quân đội hai nhiệm vụ đó, và quân đội phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi”[4].

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đội quân của các triều đại phong kiến Việt Nam luôn kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với xây dựng đất nước theo tinh thần tự lực, tự cường, lấy tư tưởng “quốc phú, binh cường” để chăm lo tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa xây dựng tiềm lực quốc phòng tạo nên sức mạnh và thế trận tổng hợp, vượt trội để giành thắng lợi trên chiến trường.

Hai là, thực tiễn tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên các địa bàn trọng yếu, chiến lược

Trong thời gian qua, các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng, các trung tâm, viện nghiên cứu của quân đội sản xuất các mặt hàng lưỡng dụng, có chất lượng cao, có thương hiệu uy tín lớn, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần phục vụ dân sinh, đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động...

Các tập đoàn, binh đoàn, tổng công ty quân đội đi tiên phong trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ, trở thành những thương hiệu quốc gia và quốc tế trong các lĩnh vực xây dựng, thông tin, viễn thông, điện tử, dịch vụ cảng biển và logistic, tham gia hội nhập quốc tế, xúc tiến thương mại và đối ngoại quốc phòng, thực sự trở thành một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, mà kinh tế tư nhân không thể tham gia. Theo báo cáo của cơ quan chức năng: “Các doanh nghiệp quân đội và các đơn vị quân đội tham gia phát triển kinh tế đã tạo ra từ 7 - 8% GDP cho đất nước; hàng năm tạo việc làm cho gần 300 ngàn lao động, chiến khoảng 15% tổng số lao động của khối doanh nghiệp Nhà nước”[5].

Ở những nơi khó khăn, gian khổ như biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Quân đội là lực lượng tiên phong đi đầu trong phát triển kinh tế, gắn củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố chính quyền địa phương. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng trên cơ sở khai thác nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động; gắn xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn với kết cấu hạ tầng phục vụ quốc phòng, dân sinh; xây dựng các cơ sở chính trị - xã hội vững chắc ở các vùng rừng núi, biên giới, hải đảo. Tổ chức hoạt động kinh tế ngày càng hiệu quả, đã góp phần hình thành lối sống định canh, định cư, giúp ổn định chỗ ở cho hàng trăm nghìn hộ nghèo, xây dựng các xã, đặc khu đảo vững mạnh, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng dân quân biển và dự bị động viên hùng hậu, rộng khắp.

Ba là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội; Quân đội đã thực hiện tiết kiệm và giảm bớt ngân sách chi thường xuyên, nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, tạo ra nguồn lực đủ mạnh để hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

Hoạt động quốc phòng là hoạt động không sinh lợi và tiêu tốn nguồn lực về vật chất, tinh thần, sức lao động của xã hội. Ph. Ăngghen đã khẳng định: “Bạo lực hiện nay là quân đội và hạm đội và cả hai - như tất cả chúng ta, đau xót thay, đều biết rõ - “tốn kém nhiều tiền một cách kinh khủng”. Nhưng bạo lực không thể làm ra tiền được… Vậy, xét đến cùng thì tiền phải do sản xuất kinh tế làm ra”[6]. Trên cơ sở nguồn nhân lực được biên chế và nguồn ngân sách được Nhà nước bảo đảm cung cấp, quân đội đã và đang cố gắng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ với chi phí thấp nhất. Cùng với đó, các hoạt động lao động sản xuất tạo ra nguồn của cải vật chất góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, quỹ phúc lợi chung và đóng góp vào GDP của quốc gia.

Để bảo đảm cho quân đội có các loại vũ khí, trang bị quân sự hiện đại, cần phát triển sản xuất quốc phòng bằng nguồn lực trong nước và tận dụng có hiệu quả quan hệ hợp tác đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương để đẩy mạnh hợp tác, liên doanh, liên kết trong nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa và nâng cấp các sản phẩm quân sự, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực. Tham gia lao động sản xuất là giải pháp tăng năng suất, hiệu quả, tạo cơ sở cho việc hiện đại hóa dây chuyền, làm chủ công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao, hiện đại, tiến tới tự chủ chiến lược về mặt quan trọng này.

Đồng thời, tạo nguồn lực để đầu tư­ nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các mặt hàng có tính l­ưỡng dụng cao trong các nhà máy quốc phòng và ở một số cơ sở công nghiệp nặng với với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường, tập trung vào một số ngành như­ cơ khí luyện kim, cơ khí chế tạo, điện tử, tin học, hoá dầu,... Qua đó, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, đổi mới, sáng tạo, hiện đại hóa vũ khí trang bị, xây dựng nguồn lực đáp ứng trang bị cho Quân đội hiện đại trong thời kỳ mới.

Bốn là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của Quân đội trong thời bình ở các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế và bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện tốt phương châm của Đảng “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Phát huy truyền thống, thế mạnh trong thăm, khám, chữa bệnh, các đơn vị y tế quân đội đã làm tốt công tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực, khám chữa bệnh cho nhân dân; phối hợp với các đơn vị y tế trong xây dựng và hoàn thiện mô hình “quân dân y kết hợp” góp phần chăm sóc và bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp thuốc cho nhân dân trên các địa bàn, đặc biệt là ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Hệ thống các nhà trường quân đội, viện nghiên cứu tranh thủ năng lực, kinh nghiệm, chất xám của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và phát huy hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật, giáo trình, tài liệu; tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thông qua lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội có thêm nhiều điều kiện để xây đắp mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện công tác dân vận, các hoạt động nhân đạo, thực hiện chính sách xã hội như: khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn ở biên giới, hải đảo; bảo đảm an sinh xã hội, trợ giúp đối tượng yếu thế; xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, trường học vùng biên; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công; tặng “nhà tình nghĩa”, “nhà đồng đội”, “nhà Đại đoàn kết”; xây cầu, làm đường giao thông nông thôn, công trình thủy lợi, nước sạch; thăm hỏi, tặng quà, sổ tiết kiệm, hỗ trợ các đối tượng chính sách,...

Năm là, các đơn vị cơ sở Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, một số đơn vị Quân đội như bệnh viện, nhà khách, đoàn an dưỡng… đã nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, quản lý đơn vị, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lao động, năng suất lao động để phục vụ bộ đội và Nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của hệ thống cơ quan quản lý, tham mưu điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng được hoàn thiện, phát huy tốt vị thế, vai trò của Quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, hiệu quả.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Quân đội tham gia lao động sản xuất, gắn quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội phải bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng… trong từng thời kỳ và điều kiện, khả năng, nguồn lực của Quân đội; đạt được mục đích cơ bản là góp phần củng cố nền quốc phòng, xây dựng Quân đội hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị; huy động nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Phát huy thế mạnh của Quân đội, nhất là nguồn nhận lực để tham gia phát triển một số lĩnh vực, nhất là trên địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo mà các doanh nghiệp dân sự không có điều kiện thực hiện, chú trọng kết hợp trên không gian truyền thống và không gian mạng; tập trung phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Theo đó, cần thực hiện một số định hướng chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng để cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân hiểu đúng, đầy đủ về vai trò, giá trị, ý nghĩa quan trọng, phương thức tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội hiệu quả; nhiệm vụ, phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của tập thể, cá nhân. Phát huy vai trò phương tiện truyền thông ở cấp quốc gia, các ban, bộ, ngành, các địa phương trong việc đưa tin,

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tổ chức thực hiện chức năng là đội quân lao động sản xuất của Quân đội.

Cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp trong Quân đội phải lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị thực hiện tốt việc tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, địa bàn, lĩnh vực được phân công. Trong nghị quyết, kế hoạch công tác, phải xác định rõ chủ trương, chỉ tiêu, biện pháp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, tổ chức thuộc quyền phải rõ ràng; phân cấp, phân quyền phải rành mạch; đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên.

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định về hoạt động của Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng. Có chính sách ưu tiên huy động nguồn lực đất đai, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực Quân đội tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng trên địa bàn xung yếu, chiến lược, các vùng biển, đảo, vành đai biên giới...

Bốn là, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh.

Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong tạo lập, huy động các nguồn lực đầu tư cho xây dựng các mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng hiệu quả. Rà soát, kiện toàn mô hình tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng hiện có theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, hiện đại và lưỡng dụng. Đổi mới mô hình quản lý của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng gắn với xu thế chung của thế giới và hội nhập quốc tế.

Năm là, phát huy vai trò của các tổng công ty, binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng gắn với xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nâng cao trình độ quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, hướng dẫn Nhân dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa mới; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Đối với các đoàn kinh tế - quốc phòng hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài và trên phạm vi dọc biên giới, cần chú trọng thường xuyên làm tốt công tác đối ngoại góp phần giữ vững và mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước.

Sáu là, sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả doanh nghiệp Quân đội để đồng thời thực hiện tốt 3 chức năng của Quân đội.

Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực và hiệu quả của doanh nghiệp quân đội trên nền tảng khoa học, công nghệ hiện đại, đổi mới, sáng tạo. Phát triển tập đoàn, tổng công ty quân đội có quy mô phù hợp, hoạt động có hiệu quả, có khả năng phục vụ quân sự, quốc phòng cao, có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

Bảy là, đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc phòng, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại và hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng.

Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về quốc phòng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hợp tác nghiên cứu khoa học quân sự và tiếp cận các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Quân đội. Ưu tiên hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng hiện đại, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, an ninh mạng, vật liệu mới, tự động hóa và công nghệ chế tạo thông minh. Phát huy vai trò của các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, nhà trường quân đội trong đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường liên kết giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân sinh, góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại và tự chủ.

Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội thể hiện rõ ý thức, trách nhiệm chính trị của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là một tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của Quân đội, là môi trường để tỏa sáng phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại trong tình hình mới, bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đó là trách nhiệm của những người lính trong thời kỳ đổi mới. Đó cũng là phương cách đáp trả đanh thép trước sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện sự ủy thác của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, quyết tâm phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của Nhân dân./.

Tài liệu tham khảo

1. Đại tướng Lương Cường (2021) “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

2. Vũ Hải Sản (2023) “Quân đội tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 14/12/2023.

3. Trần Đình Thăng (2018), “Quân đội tham gia lao động sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội”, Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 17/4/2018.

4. Thủ tướng Chính phủ (2026), Đề án "Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030”.

5. Nguyễn Bá Dương (2023) “Bộ đội Cụ Hồ” vì nước quên thân, vì Nhân dân phục vụ”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.


[1] C. Mác và Ph. Ăngghen (1996), Toàn tập, Tập 29, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 246.

[2] V.I. Lênin (2006), Toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2006, tr. 122

[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 431.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 365.

[5] Bộ Quốc phòng (2023), Tài liệu Hội thảo Đề án “Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, Hà Nội, Phụ lục II, tr. 1-2.

[6] C. Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 235.

Sự cần thiết xây dựng văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong Công đoàn Quân đội Sự cần thiết xây dựng văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong Công đoàn Quân đội

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị cốt lõi của Quân đội nhân dân Việt Nam. Việc xây dựng và lan tỏa trong ...

[ẢNH] Bộ Quốc phòng tổ chức tổng kết, trao Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội [ẢNH] Bộ Quốc phòng tổ chức tổng kết, trao Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội

Ngày 13.6 tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức tổng kết, trao Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội lần ...

Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong Quân đội: Chuyển hóa nhận thức thành hành động Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong Quân đội: Chuyển hóa nhận thức thành hành động

Nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức và kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động cho cán bộ, đoàn viên công đoàn, ...

Tin tức khác

Xung lực mới cho phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Quân đội

Xung lực mới cho phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Quân đội

Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu, phương hướng và các khâu đột phá nhằm xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong kỷ nguyên mới của dân tộc

Kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong kỷ nguyên mới của dân tộc

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và những biến đổi sâu sắc của cơ cấu kinh tế, xã hội, vấn đề giai cấp công nhân (GCCN) và sứ mệnh lịch sử của GCCN tiếp tục là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị.
Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến cho người lao động trong thời kỳ chuyển đổi số

Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến cho người lao động trong thời kỳ chuyển đổi số

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam.
Vai trò của Công đoàn Việt Nam trong bảo đảm tiền lương tối thiểu đáp ứng mức sống tối thiểu cho người lao động

Vai trò của Công đoàn Việt Nam trong bảo đảm tiền lương tối thiểu đáp ứng mức sống tối thiểu cho người lao động

Trong bối cảnh giá cả sinh hoạt không ngừng gia tăng và áp lực từ cuộc sống đô thị ngày càng lớn, vấn đề thu nhập của NLĐ – đặc biệt là NLĐ trong các ngành sử dụng nhiều lao động, có mức lương khó đảm bảo MSTT, đang trở thành mối quan tâm cấp thiết.
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, GCCN đóng vai trò quan trọng nhất trong lực lượng cách mạng, vừa là chủ thể lãnh đạo, vừa là động lực chủ yếu của tiến trình phát triển xã hội.
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh: Định hướng và giải pháp chiến lược trong bối cảnh mới

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh: Định hướng và giải pháp chiến lược trong bối cảnh mới

Bài viết phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng và phát triển giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh trong bối cảnh mới.
Xem thêm