Công ty B., ở tỉnh Quảng Ngãi, hỏi: Công ty giao cho người lao động máy móc, thiết bị để thi công công trình. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, người lao động làm mất máy móc của công ty giao. Vậy trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại được thực hiện như thế nào? Trường hợp người lao động không đồng ý bồi thường thì công ty được xử lý ra sao?
![]() |
| Ảnh minh họa: AI. |
Trao đổi về vấn đề này, Thạc sĩ, Luật sư Phạm Thanh Bình - Giám đốc Công ty Luật Bảo Ngọc cho biết: Điều 71 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đã quy định khá cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại đối với người lao động trong trường hợp làm hư hỏng, làm mất tài sản của người sử dụng lao động.
Theo luật sư Bình, khi phát hiện người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản hoặc gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp thì trước hết người sử dụng lao động cần yêu cầu người lao động liên quan làm bản tường trình sự việc để làm căn cứ xem xét, xử lý theo quy định.
Việc yêu cầu người lao động tường trình giúp doanh nghiệp xác định nguyên nhân vụ việc, mức độ thiệt hại, trách nhiệm của các bên liên quan cũng như các yếu tố khách quan, chủ quan dẫn đến việc mất tài sản. Trong nhiều trường hợp thực tế, việc mất mát tài sản có thể phát sinh từ sơ suất cá nhân nhưng cũng có trường hợp liên quan đến điều kiện bảo quản, quy trình bàn giao hoặc việc tổ chức quản lý tài sản tại doanh nghiệp.
Sau khi có tường trình và các tài liệu liên quan, người sử dụng lao động sẽ tiến hành tổ chức cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Nội dung cuộc họp phải được lập thành biên bản và có chữ ký của những người tham gia cuộc họp.
Theo luật sư Bình, pháp luật hiện hành cũng quy định việc họp xử lý bồi thường thiệt hại phải bảo đảm sự tham gia của các thành phần liên quan như tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên, người lao động bị xem xét xử lý và các thành phần khác theo quy định nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong quá trình xử lý vụ việc.
Trong quá trình họp xử lý, người lao động có quyền trình bày ý kiến, giải thích nguyên nhân xảy ra vụ việc cũng như cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp xem xét mức độ lỗi, trách nhiệm và quyết định hình thức xử lý phù hợp theo quy định pháp luật lao động.
Sau khi hoàn tất quá trình xem xét, người sử dụng lao động sẽ ban hành quyết định xử lý bồi thường thiệt hại và gửi quyết định này đến các thành phần tham gia cuộc họp.
Liên quan đến thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại, luật sư Bình cho biết pháp luật quy định thời hiệu xử lý thông thường là 6 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi gây thiệt hại. Trường hợp vụ việc có liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, bí mật công nghệ hoặc bí mật kinh doanh thì thời hiệu xử lý có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 12 tháng theo quy định của pháp luật lao động.
Theo luật sư Bình, người lao động khi được giao quản lý, sử dụng tài sản của doanh nghiệp cần có trách nhiệm bảo quản tài sản theo đúng quy định, quy trình làm việc và nội quy lao động của doanh nghiệp. Trong quá trình làm việc, nếu phát hiện nguy cơ mất an toàn, nguy cơ hư hỏng hoặc thất lạc tài sản thì cần kịp thời báo cáo cho người quản lý để có biện pháp xử lý phù hợp.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định pháp luật hoặc khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại theo quy định.
| Điều 71. Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 130 của Bộ luật Lao động được quy định như sau: 1. Khi phát hiện người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì người sử dụng lao động yêu cầu người lao động tường trình bằng văn bản về vụ việc. 2. Trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 72 Nghị định này, người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại như sau: a) Ít nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại, người sử dụng lao động thông báo đến các thành phần phải tham dự họp bao gồm: các thành phần quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 122 của Bộ luật Lao động, thẩm định viên về giá (nếu có); bảo đảm các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp. Nội dung thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại; họ tên người bị xử lý bồi thường thiệt hại và hành vi vi phạm; b) Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản này phải xác nhận tham dự cuộc họp với người sử dụng lao động. Trường hợp một trong các thành phần không thể tham dự họp theo thời gian, địa điểm đã thông báo thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận việc thay đổi thời gian, địa điểm họp; trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp; c) Người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo thời gian, địa điểm đã thông báo quy định tại điểm a, điểm b khoản này. Trường hợp một trong các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản này không xác nhận tham dự hoặc vắng mặt thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 3. Nội dung cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản. 4. Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải được ban hành trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại. Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải nêu rõ mức thiệt hại; nguyên nhân thiệt hại; mức bồi thường thiệt hại; thời hạn, hình thức bồi thường thiệt hại và được gửi đến các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này. 5. Các trường hợp bồi thường thiệt hại khác thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. |
Đọc nhiều
Tin mới hơn
Xuân sẻ chia dưới mái trường
Tin tức khác
Người lao động làm thêm liên tục, doanh nghiệp có được cắt giảm ngày nghỉ hằng tuần?
Đang hưởng chế độ ốm đau mà bị tai nạn, người lao động có được hưởng thêm chế độ tai nạn lao động?
Bác sĩ Phạm Văn Nhân: Tận tụy trong chuyên môn, tích cực với xã hội
Nghỉ ốm dài ngày trước khi nghỉ thai sản, người lao động có mất quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp?
Người lao động bị tai nạn lao động, chi phí điều trị và tiền lương do ai chi trả?
