Chị B., công nhân đang làm việc tại Thanh Hóa gửi câu hỏi: “Tôi làm việc tại Công ty X theo hợp đồng lao động có thời hạn 6 tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, công ty sẽ thanh toán tiền lương vào ngày 1 hằng tháng. Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp thường xuyên trả lương chậm hơn thời hạn đã cam kết. Sau 3 tháng làm việc, tôi quyết định nộp đơn xin nghỉ việc và nghỉ ngay sau khi nộp đơn mà không báo trước. Tôi băn khoăn việc chấm dứt hợp đồng như vậy có đúng quy định pháp luật hay không và liệu có được hưởng trợ cấp thôi việc?
Giải đáp vấn đề này, ông Nguyễn Xuân Tuấn - Trưởng Bộ phận Chính sách pháp luật và Quan hệ lao động, LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa cho biết: Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước trong một số trường hợp nhất định, trong đó có việc người sử dụng lao động không trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn.
Cụ thể, khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động được quyền nghỉ việc ngay mà không cần thực hiện thời gian báo trước nếu doanh nghiệp trả lương chậm hoặc không trả đủ lương, trừ trường hợp bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã áp dụng mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn.
Trong trường hợp của chị B, Công ty X thường xuyên trả lương chậm so với thời gian đã cam kết trong hợp đồng lao động nên chị B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước cho doanh nghiệp. Việc nghỉ việc ngay sau khi nộp đơn của chị B được xem là phù hợp với quy định pháp luật lao động hiện hành.
Tuy nhiên, liên quan đến chế độ trợ cấp thôi việc, Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động phải làm việc thường xuyên cho doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên mới đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc. Trong khi đó, chị B mới làm việc được 3 tháng nên chưa đáp ứng điều kiện về thời gian làm việc để được hưởng chế độ này.
Dù không được hưởng trợ cấp thôi việc, nhưng sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, chị B vẫn có quyền yêu cầu doanh nghiệp thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của mình.
![]() |
| Việc doanh nghiệp thường xuyên trả lương không đúng thời hạn không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người lao động mà còn là hành vi vi phạm pháp luật lao động. Ảnh minh họa: AI |
Theo Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp và người lao động phải hoàn tất việc thanh toán các khoản liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Trường hợp đặc biệt, thời gian thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
Các khoản doanh nghiệp phải thanh toán có thể bao gồm tiền lương còn nợ, tiền lương của những ngày chưa nghỉ phép năm theo quy định hoặc các khoản khác theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động nếu có.
Ngoài ra, Công ty X còn có trách nhiệm hoàn tất thủ tục xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại các giấy tờ gốc đã giữ của người lao động. Nếu người lao động có yêu cầu, doanh nghiệp cũng phải cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc, tuy nhiên chi phí sao gửi sẽ do người lao động chi trả.
Ông Nguyễn Xuân Tuấn khuyến nghị rằng, khi doanh nghiệp thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả lương, người lao động nên lưu giữ các chứng cứ như hợp đồng lao động, bảng lương, tin nhắn hoặc thông báo liên quan để làm căn cứ bảo vệ quyền lợi nếu phát sinh tranh chấp sau này.
| Theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019: Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây: a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này; b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này; c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này; e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động. Theo Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019: Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động. 1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày: a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm. 2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản. 3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây: a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động; b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả. |
Đọc nhiều
Tin tức khác
Nghỉ quá thời gian xin phép, công ty có quyền không nhận người lao động trở lại làm việc?
Doanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở đóng kinh phí công đoàn thế nào?
Lao động tự do có được bảo đảm quyền an toàn lao động?
Công nhân có nghĩa vụ gì về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp?
Hợp đồng lao động hết hạn khi đang mang thai, doanh nghiệp có được chấm dứt hợp đồng?
